CHƯƠNG TRÌNH TRIẾT HỌC

  1. Chương trình Triết I:

Mục đích của thời gian này chủ yếu là giúp các học viên hoàn thiện khả năng ngoại ngữ, Việt ngữ và các khoa học nhân văn[2].  Ngoài ra, các học viên còn được giới thiệu một phần Triết Sử. Cụ thể Chương trình Năm Dự Bị bao gồm những môn học sau:

  • Anh ngữ (gồm bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; Ngữ pháp; Essay writing; dịch Anh-Việt).
  • Việt ngữ (viết văn, văn học Việt Nam).
  • Luận lý học, Dẫn Nhập Triết học, Triết Cổ Hy Lạp
  • Các môn nhân văn bao gồm : Lịch sử và Văn hoá Việt Nam, Văn Hoá Tây Phương, Nhạc lý, Hội hoạ, Xã hội học cơ bản[3].
  1. Chương trình triết học (năm II & III)

Quy Chế Tổng Quát về việc học trong Dòng đã mô tả điển hình của giai đoạn triết sinh như sau:

“Con người trong tư cách là một hữu thể hoàn toàn ý thức về mình, có tự do và có tính xã hội, phẩm giá và các quyền của con người trong tư cách là một nhân vị; khuynh chiều của con người hướng về những gì là siêu việt, sự hiện hữu và bản tính của Thiên Chúa; lương tâm, trách nhiệm luân lý; trách nhiệm của con người đối với văn hóa và các cơ chế; các con đường đưa tới việc nhận biết và cảm thức về chân lý.” [4]

Từ định hình cơ bản đó, Học viện cố gắng cung cấp chương trình triết học của học viện trong 2 năm còn lại với cấu trúc như sau:

Các môn dẫn nhập và cơ bản

  • Tri thức luận (Epistemology).
  • Lịch sử triết học Tây Phương (Greek philosophy, Medieval, Modern and Contemporary Philosophy).
  • Siêu hình học (Metaphysics) hay/và Hữu thể học (Ontology).
  • Đạo đức triết học (Philosophical Ethics).
  • Triết học về Thiên Chúa (Philosophy of God).
  • Triết học về Con người (Philosophy of Man).
  • Triết học Chính trị (Political Philosophy).
  • Triết học Đông Phương:
  • Lịch sử tư tưởng Trung Hoa (History of Chinese Thoughts),
  • Triết sử Ấn độ (Indian Philosophy).
  • Phật giáo (Buddhism).
  • Tâm lý học (Psychology).

Các môn mở rộng [5]

Tùy theo đích nhắm và hoàn cảnh của từng năm học, việc học có thể được mở rộng thêm một hay nhiều môn học trong số các môn khác được liệt kê dưới đây:

  • Triết học về khoa học (Philosophy of Sciences)
  • Triết học về Tôn giáo (Philosophy of Religion)
  • Hiện tượng học (Phenomenology)
  • Thông diễn học (Hermeneutics)
  • Phương pháp và viết Luận Triết (Methodology &   Philosophical Writing)
  • Ngữ học (Linguistics).
  • Phân tích xã hội (Social Analysis).

[1] Được gọi là « Baccalauréat canonique » trong tiếng Pháp và « Bachelor » of Ecclesiastical Degree Programs, trong tiếng Anh.

[2] Trong hoàn cảnh cụ thể của Tỉnh Dòng, chưong trình này chỉ thực hiện được một phần những gì là thiết yếu nhất, vì việc học tiếng Anh đã chiếm phần lớn thời gian; nó có mục đích giúp học viên khả dĩ hoàn tất tốt nhất những môn triết học trong hai năm ngay sau thời gian juniorate.

[3] Sau thời gian Nhà Tập, các Giêsu hữu trẻ cần được học môn Xã Hội, bao gồm các phương diện kinh tế chính trị và văn hóa ( Fr. P.-H. Kolvenbach, The Formation of the Jesuits, General Curia of the Society of Jesus, Roma, 2003, no. 14).

[4] General Norms of Studies, no. 77.

[5] Ngoài ra, tùy theo khả năng tổ chức của Học viện, trong hai năm học, các học viên phải học một số chuyên đề (seminars) về một số tác giả hay tác phẩm quan trọng trong khuôn khổ lịch sử triết học. Việc học Anh ngữ cũng được duy trì cách cá nhân trong thời gian này.