[Cẩm nang hỏi đáp Triết học] Bạn biết gì về Aristotle?

(ảnh internet)

Câu 69: Tác phẩm nào của Aristotle là tiêu biểu các tác phẩm ấy bàn về điều gì?

Tác phẩm Organon của Aristotle bao gồm sáu cuốn thời kỳ đầu: Categories, On Interpretation, Prior Analytics, Posterior Analytics, Topics, Sophistical Refutations. Cùng với Physics Metaphysic, các sách này bàn về logic, ngôn ngữ, bản chất của tra vấn khoa học (scientific inquiry), và những vấn đề mà các triết gia gọi là bản thể học vốn nghiên cứu về các sự vật có thực hay những vật có tồn tại.

Các tác phẩm này trình bày một phương pháp triết học có tính hệ thống về phân tích, và đưa ra những kết quả của phương pháp đó về những lãnh vực hiểu biết của con người nói chung. Các giải thích về mặt khoa học cụ thể hơn được tìm thấy trong những cuốn On Generation and Corruption, On The Heavens, Meteorology của Aristotle. Cuốn On the Soul bàn về những chức năng tổng quát của tâm trí, trong đó cuốn Parva Naturalis của ông được áp dụng cho những chức năng cụ thể như việc ghi nhớ, mơ, ngủ và thức. Các trước tác của Aristotle về sinh học bao gồm History of Animals, Parts of Animals, On the Generation of Animals. Tác phẩm Nicomachean EthicsEudemian Ethics cấu thành lý thuyết của Aristotle về nhân đức luân lý (moral virtue), trong khi triết học chính trị của ông được đưa ra trong cuốn Politics. Tác phẩm Rhetoric thảo luận về thuật hùng biện và thuyết phục, tác phẩm Poetics bao hàm lý thuyết về bi kịch xét như một hình thức nghệ thuật.

Câu 70: Những nội dung quan trọng nhất trong tác phẩm của Aristotle là gì?

Để thúc đẩy việc khai triển mở rộng sự hiểu biết chắc chắn, Aristotle đưa ra một lý thuyết về những quy tắc cho một suy tư đúng đắn qua việc trình bày lý thuyết Tam đoạn luận (Syllogistics), một hình thức luận lý thống trị lĩnh vực này đến tận thời hiện đại. Về lãnh vực khoa học, học thuyết của Aristotle về nhân quả nhắm tới trình bày việc các sự vật đi vào sự hiện hữu và thay đổi như thế nào mà không dựa trên tư tưởng của Plato về một thế giới chân thực nhưng còn bị ẩn khuất. Hơn nữa, Aristotle chủ trương và thực hành việc quan sát, phân loại trong mọi lĩnh vực.

Lối nhìn của Aristotle về đạo đức cũng thực tế hơn Plato. Ông tin rằng hạnh phúc là một mục tiêu phù hợp và phổ quát cho con người; hạnh phúc có thể đạt được qua việc vun trồng và tập tành các nhân đức vốn là những khuynh hướng để hành động trong những cách thức cụ thể.

Khác Plato, Aristotle không hề có ý niệm về một hình thái chính phủ lý tưởng nhưng tuyên bố rằng chính phủ nảy sinh cách tự nhiên từ những tổ chức gia đình, bộ tộc và làng xã. Theo Aristotle, mục tiêu của chính phủ là để giúp cá nhân đạt tới thịnh vượng và đầy đủ.

Trong khi Aristotle đồng ý với Plato rằng nghệ thuật là một hình thức của sự mô phỏng, ông cũng chỉ ra rằng nghệ thuật không nhất thiết bóp méo thực tế, bởi vì nghệ thuật có thể nói về những chân lý phổ quát của con người hơn là chỉ là những sao chép méo mó của con người và những biến cố thực tế.

Câu 71 : Tam đoạn luận là gì ?

Theo Aristotle, một tam đoạn luận cổ điển có một tiền đề chính, một tiền đề phụ và một kết luận. Nếu tiền đề chính và phụ là đúng thì kết luận không thể là sai; kết luận phải là đúng. Ví dụ, “Tất cả mọi người phải chết” là tiền đề chính, “Socrates là người” là tiền đề phụ. Và kết luận là “Socrates phải chết”.

Câu 72 : Những tư tưởng chính của Aristotle được so sánh với Plato như thế nào?

Aristotle từ chối tuyên bố của Plato rằng chỉ có hình thức (forms) là thật và có một thế giới khác của hình thức bên ngoài thế giới mà chúng ta nhận thức trong đời sống thường ngày. Nhưng ông ta cũng đồng ý với Plato rằng kiến thức phải có sự chắc chắn. Vì thế, nhiệm vụ chính của triết học là mô tả những gì tạo nên đối tượng thực trong thế giới này và giải thích về việc làm cách nào chúng ta có thể có kiến thức chắc chắn về chúng. Ông cũng phát triển một hệ thống về luận lý, hay những quy tắc suy tư, mà sẽ đảm bảo sự chắc chắn nếu một người bắt đầu với những tiền đề chắc chắn.

Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên

Nguồn: Naomi Zack, Ph.D., The Handy Philosophy Answer Book, (Visible Ink Press, 2010), 34-35.