Sự Thinh Lặng Của Ngôn Sứ Giê-Rê-Mia Sau Cuộc Tranh Cãi Với Ngôn Sứ Kha-Nan-Gia

Môn học: Ngôn Sứ

Giáo sư: Cao Gia An, S.J.

Học viên: Nguyễn Văn Chí, S.J.

Sự thinh lặng có giá trị rất riêng của nó, chẳng hạn, trường hợp ngôn sứ Giê-rê-mia thinh lặng sau cuộc tranh luận với ngôn sứ Kha-nan-gia. Qua việc phân tích và giải thích ý nghĩa của sự kiện này, người viết cho thấy sự thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia trong trường hợp này thích hợp và có lợi ích hơn việc lên tiếng: thinh lặng để đi vào thái độ tuân phục đối với sứ mạng của Đức Chúa; thinh lặng để người đón nhận sứ điệp nhận thấy lời Chúa phán không phải là để tranh cãi luận lý mang tính con người, nhưng là Lời loan báo thánh ý và mời gọi đón nhận; thinh lặng để chính ngôn sứ đối thoại với lòng mình. Theo đó, người Ki-tô hữu có thể nhận ra giá trị của sự thing lặng trong những thời khắc cần thiết và phù hợp trong việc thực hiện sứ mạng ngôn sứ mình đã lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy.

 

 

Khi nói đến ngôn sứ, người ta thường nghĩ ngay đến hành động loan báo sứ điệp của Đức Chúa mà họ được mời gọi thực hiện. Tuy nhiên, không phải lúc nào ngôn sứ cũng dễ dàng làm được điều này. Thực ra có nhiều lúc họ bị từ khước, bị chống đối, ngược đãi, và thậm chí bị cấm không được lên tiếng. Trong số những vị phải chịu cảnh ngộ như thế, có ngôn sứ Giê-rê-mia. Thật vậy, chương 28, sách Giê-rê-mia thuật lại rằng, sau cuộc tranh cãi với ngôn sứ Kha-nan-gia, ngôn sứ Giê-rê-mia đã phải rút lui vào thinh lặng. Vậy, lý do nào đã khiến ông phải chấp nhận một hành động như thế? Trong phần trình bày dưới đây, chúng ta thử cùng tìm hiểu diễn tiến đi đến thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia. Tiếp đến là tìm hiểu những lý do khiến ông thực hiện hành động ấy. Sau cùng là khám phá ý nghĩa của sự thinh lặng trong sứ vụ ngôn sứ của người Ki-tô hữu.

I. Diễn tiến đi đến thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia

1. Bước khởi đầu của ơn gọi ngôn sứ

Giê-rê-mia sinh thành trong một gia đình tư tế, tại làng A-na-thốt, thuộc vùng lân cận Giê-ru-sa-lem (Gr 1,1). Ông bắt đầu ơn gọi của mình từ khi còn rất trẻ (Gr 1, 6b). Thời gian bắt đầu ơn gọi vào khoảng năm thứ XIII của triều vua Giô-si-gia-hu (Gr 1,2; 25,3), nghĩa là vào khoảng năm 627 (trước Công Nguyên- tCN). Đó là thời gian khởi đầu việc sụp đổ của Đế Quốc Át-sua dưới thời Assurbanipal. Lúc đó ông đã được Chúa cho thấy hai thị kiến: thị kiến nhành hoa Hạnh (Gr 1,11c) và thị kiến cái nồi đang sôi bị nghiêng từ phương bắc (Gr 1,13c). Cả hai thị kiến đều có ý nói về tương quan giữa Đức Chúa với dân của Người trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai. Hiện tại, dân không còn trung thành trong việc phụng thờ Đức Chúa duy nhất. Cụ thể, dân tiếp tục thi hành việc tế tự dành cho thần ngoại, một hành động vốn đã có từ thời vua Mơ-na-se (2V 21,3). Như thế, trong một tương lai không xa, dân It-ra-el sẽ phải chịu ách thống trị của Ba-by-lon. Tai họa này được xem như là một án phạt để trị tội bất trung của dân đối với Đức Chúa.

Bên cạnh việc được thấy hai thị kiến, Giê-rê-mia cũng được Chúa mặc khải cho biết rằng ông sẽ gặp sự phản kháng của những người được loan báo. Họ gồm mọi thành phần từ dân, cho đến vua, từ thủ lãnh cho đến tư tế, đặc biệt hơn là sự chống đối của những người được gọi là ngôn sứ (Gr 1,18). 

Như vậy, sứ điệp đã có, đối tượng được loan báo cũng đã biết, nhưng thực tế, trong suốt giai đoạn của triều đại Giô-si-gia-hu, Giê-rê-mia vẫn ở trong thinh lặng. Mặc dù kể từ năm thứ XVIII triều đại Giô-si-gia-hu, thời điểm tìm thấy Sách Luật, Vua có thực hiện cuộc cải cách tôn giáo, nhưng trong các sách thánh cũng không thấy ghi lại dấu vết nào của ngôn sứ Giê-rê-mia.

2. Ơn gọi làm ngôn sứ vào thời Giơ-hô-gia-kim (609/608-598)

Sau khi Giô-si-gia-hu băng hà năm 609 (tCN), con là Giơ-hô-a-khát nối ngôi chưa đầy ba tháng thì bị người Ai-cập truất phế, và bắt đi đày. Tiếp đó, En-gia-kim (một người con khác của Giô-si-gia-hu) được người Ai-cập đặt làm vua Giu-đa, và đổi tên cho ông là Giơ-hô-gia-kim (2V 24,34). Vào đầu triều đại của vua này, Giê-rê-mia nhận được lệnh của Đức Chúa, ông chính thức lên tiếng. Trước hết, Giê-rê-mia lên án lối sống xa hoa của Giơ-hô-gia-kim (Gr 22,13-19). Ngoài ra, ông cũng lên án liên minh các tư tế, các thủ lãnh và các ngôn sứ giả, vì đã không giúp cho dân hiểu rõ tình cảnh thực sự (thờ thần ngoại; chưa sống công bình) nhưng lại nuôi dân bằng cảm giác an toàn giả tạo. Sau cùng, Giê-rê-mia cũng lên án cả toàn dân vì quá ngây ngô trong niềm tin mà phó mặc cho Đức Chúa việc bảo vệ Đền Thờ và Thành Thánh của Người (Gr 7,1-8,3; 26). Riêng đối với Giơ-hô-gia-kim, Giê-rê-mia đã gửi cho ông một cuốn sách, trong đó ghi lại tất cả những loan báo mà Đức Chúa đã truyền, nhưng vua này không đón nhận, trái lại ông còn đem đốt trong lò (Gr 36,32). Vậy là, những lời loan báo của Giê-rê-mia, thực tế, đã không được cả vua lẫn thường dân đón nhận. Không những thế, chính bản thân ông còn bị mọi người thù ghét và bách hại. Ngay cả những người đồng hương A-na-thốt cũng ngược đãi và muốn giết chết ông (Gr 11,18-12,6). Có lẽ vì thế mà Đức Chúa mời Giê-rê-mia tiếp tục trở nên một dấu chỉ cho dân, khi phải sống một cuộc đời không có con cái (Gr 16). Điều này như một dấu chỉ cho dân thấy rằng một tình cảnh không có tương lai.

3. Ơn gọi làm ngôn sứ vào thời vào thời Xít-ki-gia-hu (597-587/586)

Vì luôn nuôi tham vọng nhờ vị thế của Ai-cập để chống lại Ba-by-lon, nên Giơ-hô-gia-kim đã bị Vua Ba-by-lon, là Na-bu-cô-dô-nô-xo tiến đánh. Giơ-hô-gia-kim thua trận, và bị bắt đi đày ở Ba-by-lon. Con của Giơ-hô-gia-kim là Giơ-hô-gia-khin lên ngôi kế vị. Nhưng chưa đầy ba tháng, vua này tiếp tục bị Na-bu-cô-dô-nô-xo bắt giải về Ba-by-lon (2Sbn 36,5-10). Sau đó, Na-bu-cô-dô-nô-xo đã đặt chú của Giơ-hô-gia-khin là Mat-tan-gia (ông này cũng là con của Giô-si-gia-hu) lên ngôi vua và đổi tên là Xít-ki-gia-hu (2 V 24,17). Trong thời gian đầu của triều Xít-ki-gia-hu, Giê-rê-mia còn được lắng nghe và còn được thỉnh ý. Nhờ đó, Giê-rê-mia ra sức thuyết phục Xít-ki-gia-hu và các nhà lãnh đạo của Giu-đa hãy chấp nhận ách đô hộ, và đừng nổi loạn chống lại Ba-by-lon. Thêm một lẫn nữa, lời khuyên của ông đã không được lắng nghe.

4. Trong cuộc tranh cãi với ngôn sứ Kha-nan-gia

a. Bối cảnh lịch sử

Triều đại của Xít-ki-gia-hu bắt đầu cùng với biến cố đi đày của dân lần thứ nhất (năm 597/598). Những năm đầu của triều đại này cũng là một thời điểm khó khăn của đế quốc Ba-by-lon. Bởi lẽ, một mặt, trong lòng đế quốc có nhiều cuộc nổi dậy chống Na-bu-cô-đô-nô-xo, một mặt khác, Đế quốc Ai-cập, dưới triều Pha-ra-ô Psammetico II (595-589), lại bắt đầu phát huy sức mạnh và có xu hướng chống Ba-by-lon. Trong tình cảnh đó, nhiều tiểu quốc chư hầu trong vùng Syro-Palestine cũng nhen nhúm nổi dậy, với mong ước lật đổ ách thống trị Ba-by-lon. Trong dịp gặp mặt của các sứ giả các tiểu quốc Ê-đôm, Mô-áp, Am-mon, Tia, Xi-đôn (Gr 27,2), với mục đích tạo liên minh chống Ba-by-lon, Giê-rê-mia nhận được lệnh truyền của Đức Chúa, ông làm một cái gông (עֹל)[1] đeo vào cổ rồi đi rảo quanh Giê-ru-sa-lem (Gr 27,2).

Trong văn hóa của người Do Thái thời đó, cái gông (ách) vốn là một đồ vật được sử dụng dành cho con vật, có thể là lừa hay bò, để bắt chúng kéo các đồ vật nặng hoặc cày ruộng. Trong Kinh Thánh, cái gông được sử dụng như một biểu tượng cho ách thống trị của kẻ ngoại bang (Đnl 28,48). Ngoài ra, cái gông cũng có biểu tượng cho tội lỗi (Ac 1,14)[2]. Như thế, ngang qua hành động đầy tính biểu tượng, Giê-rê-mia muốn nói rằng: vì dân sống trong tình trạng tội lỗi nên Đức Chúa muốn Giu-đa phải chấp nhận ách thống trị của Ba-by-lon, và không nên nổi loạn. Sứ điệp đã rõ, liệu rằng nó có được giới lãnh đạo đón nhận hay không?

b. Sự thinh lặng sau cuộc tranh cãi với ngôn sứ Kha-nan-gia

b.1 Tiến trình của cuộc tranh cãi

Ngay sau biến cố gửi sứ điệp cho Xít-ki-gia-hu, Giê-rê-mia tiếp tục loan báo trong Đền Thờ, nơi có sự hiện diện của các tư tế và toàn dân. Tất nhiên, ông vẫn tiếp tục mang gông trên cổ như một biểu tượng cho sứ điệp của mình. Phản ứng lại sứ điệp của Giê-rê-mia, Kha-nan-gia cũng tuyên bố trước mặt tư tế và toàn dân với một mô thức vốn được các ngôn sứ sử dụng: “Đức Chúa các đạo binh, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán như sau…” Tuy nhiên, những nội dung mà Kha-nan-gia loan báo lại đi ngược hoàn toàn với lời của Giê-rê-mia:

Ta sẽ bẻ gãy ách của vua Ba-by-lon.3 Còn hai năm nữa, Ta sẽ đem về nơi này mọi đồ dùng trong Nhà Đức Chúa, mà Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, đã lấy ra khỏi nơi này đưa sang Ba-by-lon.4 Cả Giơ-khon-gia, con của Giơ-hô-gia-kim, vua Giu-đa và tất cả những người Giu-đa bị lưu đày sang Ba-by-lon, chính Ta sẽ dẫn chúng về nơi đây,” (Gr 28,2-4).

Để hồi ứng lại, trước hết, Giê-rê-mia trả lời với một câu nói có vẻ mang đầy tính tiếc nuối “A-men, ước gì Đức Chúa làm như thế!” (Gr 28, 5-9). Ông ước mong điều tốt đẹp đó cho Giuda, nhưng tình cảnh hiện tại và tương lai thì không được như thế. Tiếp sau đó, Giê-rê-mia còn đưa ra một khuyến nghị:

Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở và vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh, tai ương và ôn dịch;9 còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ ĐỨC CHÚA sai đến thật sự! ” (Gr 28,8-9).

Với hai lời hồi ứng của Giê-rê-mia, Kha- nan-gia vẫn chưa thể được thuyết phục. Trái lại Kha-nan-gia còn phản ứng mạnh mẽ hơn, ông đã tháo gông ra khỏi cổ Giê-rê-mia và bẻ gãy. Hành động này có ý muốn nói lên như một dấu hiệu tiên báo sự chiến thắng, tự do sẽ thay thế cho lời đe dọa của Giê-rê-mia[3]. Trước hành động của Kha-nan-gia, Giê-rê-mia đã bỏ đi (Gr 28, 10-11).

b.2 Lý giải về thuật từ “bỏ đi”

Trong bản văn của chương 28, không có một từ “thinh lặng” nào để nói về thái độ của Giê-rê-mia sau cuộc tranh cãi với ngôn sứ Kha-nan-gia mà chỉ có từ “bỏ đi”. Thực ra, từ “bỏ đi” trong tiếng Việt là đã được dịch theo kiểu diễn nghĩa. Từ nguyên văn trong tiếng Do Thái là: “כּל־הַגּוֹיִ֑ם וַיֵּ֛לֶךְ …הַנָּבִ֖יא לְדַרְכּֽוֹ׃ פ”[4] ; bản dịch Hy Lạp là “ᾤχετο… εἰς τὴν ὁδὸν αὐτοῦ”[5], bản La-tin “abiit … in viam suam[6], bản tiếng Ý là “andò per la sua strada[7]; bản tiếng Anh là “went his way[8]. Căn cứ trên các bản dịch này thì chúng ta có thể dịch một cách sát nghĩa là “đi theo đường của ông ấy”. Trong Kinh Thánh, cụm từ “đi theo đường của ông ấy” đã được xuất hiện nhiều lần. Cụ thể, trong Cựu Ước, St 25,34 nói về việc ra đi của Ê-sau, sau khi được Gia-cop cho ăn bánh và cháo; Xh 18,27 nói về cuộc chia tay của Mô-sê và nhạc phụ của ông; Ds 24,25 nói về cuộc chia tay của vua Ba-lac và Bi-lơ-am; 1Sm 26,5 nói về việc ra đi của mỗi người (Đa-vit và Sa-un) sau cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ, …Trong Tân Ước, cụm từ này cũng được dùng nhiều lần, tiêu biểu có câu Lc17,19 nói về việc Đức Giê-su không được chấp nhận trong cộng đồng quê hương, nên Người đành băng qua giữa họ mà đi; Cv 5,41 nói về cuộc lên đường của các tông đồ sau khi ra khỏi Hội Đường, nơi mà các ông đã bị tra khảo…. Nói chung, cụm từ “went his way” này có ý diễn tả hành động trở về quê hương, hoặc nơi ở, hay tiếp tục cuộc hành trình của mình. Nhưng nó cũng được dùng để diễn tả về một sự thất bại trong một cuộc đối thoại hay trong một sự cộng tác chung nào đó. Nguyên nhân của sự thất bại có thể là do sự bất đồng giữa hai bên, nên mỗi người đành phải ra đi một ngả.

Như thế, ta cũng có thể áp dụng lối hiểu này cho trường hợp của Giê-rê-mia sau cuộc tranh cãi với Kha-nan-gia. Cụm từ “đi theo con đường của ông” có nghĩa là không tìm được một “con đường” chung, không tìm được tiếng nói chung. Không có những điểm chung này thì không thể đối thoại được, người ngôn sứ của Đức Chúa đành phải chấp nhận thinh lặng.

II. Lý giải sự thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia

1. Ngôn sứ thinh lặng như một thái độ nền tảng

Có lẽ Giê-rê-mia cũng như bao ngôn sứ chân chính khác luôn ý thức được rằng nguồn của lời mình loan báo đến từ Đức Chúa, bởi vì Ngài là Đấng làm chủ lịch sử của con người[9]. Do đó, ngay lúc khởi đầu sứ vụ của mình, Giê-rê-mia thường lặp lại câu “có lời Đức Chúa phán…” Để có thể nói lên được lời này, chắc hẳn Giê-rê-mia đã phải trải qua những thời gian dài của sự thinh lặng. Không lặng thì không thể lắng nghe. Bởi lẽ, sứ điệp đến từ Đức Chúa không phải lúc nào cũng hợp với logic của con người. Thật vậy, làm sao có thể hiểu It-ra-el được giải thoát bằng việc chấp nhận ách thống trị của Ba-by-lon chứ không phải nổi loạn chống lại Đế Quốc này[10]. Một lý do khác nữa, xung quanh Giê-rê-mia cũng có rất nhiều nhiều thứ có thể gây nên “tiếng ồn”. Những thứ ấy có thể là ước muốn được sự kính trọng của đám đông, hoặc có thể là những cảm xúc nhục nhã, cô độc và bị loại trừ mà người khác gây nên khi loan báo sứ điệp[11].  

Vì sứ điệp đến từ Đức Chúa, nên ngôn sứ chỉ lên tiếng khi mình được Đức Chúa gợi hứng, chứ không loan báo dựa trên ý muốn chủ quan của mình[12]. Trái lại, ngôn sứ sẽ phải thinh lặng khi chưa được gợi hứng. Khi nắm được nguyên tắc này, ta mới hiểu được tại sao Giê-rê-mia đã không thể nói Kha-nan-gia là sai lầm ngay trong cuộc tranh cãi, mà chỉ nói lên điều này sau khi được Đức Chúa xác chuẩn[13].

2. Ngôn sứ thinh lặng bởi người nghe

Thái độ thinh lặng không chỉ được gặp thấy trong tương quan với Chúa, nhưng còn được gặp thấy trong tương quan với đối tượng mà mình loan báo.

Thật vậy, trong tương quan với người mình loan báo, thinh lặng bao giờ cũng bị chi phối bởi hai chiều kích, khách quan hoặc chủ quan hoặc cả hai. Trước hết, do chiều kích khách quan, tức là, khi người loan báo muốn lên tiếng, muốn đi vào cuộc đối thoại mà người nghe luôn khước từ. Điều này khiến người loan báo phải thinh lặng. Đọc lại sách Giê-rê-mia, cứ mỗi lần ông nhận được lệnh từ Đức Chúa phải đi loan báo thì liền sau đó ông phải chấp nhận tình trạng rút lui vào thinh lặng.

Cụ thể, ngay từ khi Giê-rê-mia nhận được sứ mạng loan báo từ Đức Chúa (Gr 1, 17), đồng thời ông cũng được mặc khải cho biết mình sẽ nhận được sự chống đối: “từ các vua Giu-đa đến các thủ lãnh, các tư tế và toàn dân” (Gr 1,18). Mặc dù ý thức được sự phản đối, nhưng ông vẫn thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, ngang qua nhiều cách thức rao giảng khác nhau, có thể là tuyên án về ách thống trị sắp xảy đến như một lời răn đe để dân hoán cải: “Ta sẽ tuyên án phạt cư dân xứ này, lên án mọi hành vi gian ác của chúng,….” (Gr 1, 16); hoặc có thể là tố giác hiện trạng của đời sống luân lý trong dân: “Chúng không tôn trọng công lý, coi thường quyền lợi kẻ mồ côi, miễn sao chúng được lợi. Chúng không xử công minh cho kẻ khó nghèo” (Gr 5,28); và “miệng nói ra toàn điêu ngoa lừa đảo” (Gr 9, 7).

Hoặc cũng có thể là kêu gọi trực tiếp quay trở về: “Trở về đi….vì Ta giàu lòng thường xót” (Gr 3,12);  “Trở về đi,…Ta sẽ chữa lành tội phản bội của các ngươi!” (Gr 3,22); “Nếu ngươi trở về, …thì chư dân cũng sẽ lấy danh Người mà cầu phúc cho nhau; và nơi Người, chư dân cũng sẽ hãnh diện” (Gr 4,1-2); “Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này” (Gr 7,3).

Nhưng dù đã thực hiện bằng cách thế nào chăng nữa, xem ra lời loan báo của Giê-rê-mia vẫn không có kết quả với người nghe. Bởi vì dân đã “không nghe và chẳng đoái hoài, vẫn cố chấp theo lòng dạ xấu xa của họ” (Gr 11,8).  Sự phản kháng ban đầu chỉ là phớt lờ những lời loan báo của Giê-rê-mia, nhưng càng về sau càng mạnh mẽ hơn. Trước hết, những người thân thuộc ở quê hương cũng tẩy chay ông: “Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa!” (Gr 11,19). Tiếp đến là sự phản kháng của người đứng đầu vương quốc Giu-đa, vua Giơ-hô-gia-kim. Chính vua này đã đem đốt trong lò sưởi cuốn sách ghi lại những lời của Đức Chúa phán với Giê-rê-mia (Gr 36,32)

Sự phản đối không chỉ diễn ra nơi quê hương của Giê-rê-mia và triều đình nhưng còn cả ở Đền Thờ, một không gian vốn được gọi là thánh thiêng để công bố các sứ điệp của Đức Chúa. Và sự phản đối được thực hiện, bởi một người đại diện cho một cộng đồng đức tin. Thật vậy, sau khi Giê-rê-mia tuyên sấm ở Đền Thờ, tư tế Pat-khua đã cho đánh đòn Giê-rê-mia. Hành động của Pat-khua thực ra chỉ là phản ứng trực tiếp đối với con người vị ngôn sứ hơn là phản ứng với chính sứ điệp (Gr 20,1-6).

Sự phản kháng có tính quyết liệt hơn xảy ra trong cuộc đối mặt với Kha-nan-gia. Ông này chẳng những không đón nhận lời của Giê-rê-mia mà còn nói một sứ điệp ngược hoàn toàn. Không dừng lại ở đó, ông còn làm cả một hành động biểu tượng là bẻ gãy cái ách mà Giê-rê-mia đang đeo ở cổ (Gr 28,1-14). Hành động của Kha-nan- gia xem ra đặt dấu chấm hết cho nỗ lực loan báo sứ điệp mà Đức Chúa đã truyền cho Giê-rê-mia. Nên đứng trước một sự phản kháng quyết liệt như thế, điều tốt nhất có thể làm là giữ thinh lặng. Việc làm này thật hợp lý, vì ngôn sứ đến để loan báo sứ điệp của Đức Chúa chứ không phải cãi nhau với đời bằng bất cứ giá nào. Một sự thinh lặng như thế, một đằng nói lên tính bất lực của ngôn sứ: họ chỉ loan báo mà không quyết định được sự đón nhận của người nghe, đằng khác cũng cho thấy vị ngôn sứ rất tôn trọng người nghe. Dù sao, lúc này Giê-rê-mia đã hoàn thành sứ mệnh của mình, nên ông sẽ không bị Đức Chúa đòi nợ máu vì đã không cảnh cáo những nguy hại sẽ xảy đến với dân (Ed 33,9).

3. Ngôn sứ thinh lặng vì mình

Hành động thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia, lúc này, không chỉ do phản ứng khách quan của người nghe nhưng thực sự chính bản thân ông cũng cần một sự thinh lặng.

Trước hết, chính bản thân Giê-rê-mia, cũng cần phải quay trở về với nội tâm của mình để dành một khoảng không gian cho cảm xúc tiếc nuối, đôi khi có cả cảm xúc thất vọng và chán nản. Bởi lẽ dù là một vị ngôn sứ mạnh mẽ, kiên cường mấy chăng nữa thì Giê-rê-mia cũng vẫn là một con người. Vì thế, ông không tránh khỏi cảm xúc thuộc về con người. Cả một hành trình dài vất vả loan báo, nhưng những gì nhận lại chỉ là phản kháng, khước từ. Thật vậy, không ít lần, Giê-rê-mia đã thổ lộ tâm trạng thật của mình khi phải đảm nhận thực thi sứ mạng mà Đức Chúa trao phó:

Tôi đã lọt lòng mẹ để làm chi? / Phải chăng chỉ để thấy toàn gian khổ, buồn sầu, / và thấy cuộc đời qua đi trong tủi hổ?” (Gr 20,18).

Hoặc “Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì, để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gổ với con? / Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người, / thế mà vẫn cứ bị nguyền rủa” (Gr 15,10).

 Những cảm xúc thất vọng phần nào nói lên sự gắn bó mật thiết của Giê-rê-mia với sứ điệp mà ông loan báo. Ông không phải là “loa phát thanh” vô hồn của Đức Chúa, nhưng là một nhân vị có khả năng nhận biết và dấn thân cho những gì là chân thật và thiện hảo. Ông có những trăn trở, ưu tư, những mong mỏi cho sứ điệp được đón nhận.

Tiếp đến, sự thinh lặng là cần thiết cho Giê-rê-mia để suy xét và phân định vì lời của ngôn sứ Kha-nan-gia cũng có một mức độ hấp dẫn nào đó. Cho dẫu, trước đó, Giê-rê-mia được mặc khải cho biết có những ngôn sứ loan báo lời giả dối (Gr 6,14; Gr 23,17). Thực ra, chuyện một ngôn sứ chân chính bị mắc lừa cũng đã từng xảy ra trong quá khứ lịch sử dân Chúa. Cụ thể, trong sách Các Vua có mô tả về việc một người của Đức Chúa đã bị một vị ngôn sứ dùng lời lừa dối (ăn bánh và uống nước) khiến người này trái lệnh của Đức Chúa, mặc dù ông luôn ý thức được lệnh Chúa đã truyền cho mình – không được ăn bánh và uống nước. Hệ quả là người ấy đã bị sư tử giết chết (1 V,13).

Tương tự như thế, ở đây, ta thấy lời loan báo của Kha-nan-gia cũng mang nhiều dáng vẻ hấp dẫn với người nghe. Trước hết, mặt nội dung có vẻ rất tích cực: “Đức Chúa sẽ bẻ gẫy ách của Ba-by-lon”, công việc này sẽ được thực hiện trong thời gian ngắn, khoảng hai năm (Gr 28,3). Tiếp đến, về bản thân người loan báo, Kha-nan-gia xuất thân ở Ghíp-ôn (cách không xa so với A-na-thot, quê hương của Giê-rê-mia), thuộc vùng lãnh thổ của chi tộc Bengiamin, cách Giê-ru-sa-lem 6 dặm về phía Tây Bắc. Nơi đây là vốn là một vùng đất gắn liền với ký ức của người Do Thái, vì nó ghi dấu ấn của biến cố Giô-suê ra lệnh cho mặt trời dừng lại (Gs 10,12). Từ bối cảnh này mà Kha-nan-gia cũng có thể được xem là ngôn sứ có thế giá [14]. Về hình thức loan báo, Kha-nan-gia cũng sử dụng công thức kinh điển mà các ngôn sứ vẫn thường dùng: “Đức Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Ít-ra-en, phán…. sấm ngôn của Đức Chúa.” Vì với công thức tuyên sấm này, biết đâu Đức Chúa cũng đang phán với Kha-nan-gia, thế nên Giê-rê-mia cũng phải dành một sự tôn trọng nhất định nào đó đối với Kha-nan-gia[15]. Về không gian loan báo, Kha-nan-gia cũng dùng một khung cảnh trịnh trọng là Đền Thờ, trước mặt các tư tế và toàn dân. Đặc biệt là ông cũng dùng cả hành động mạnh mẽ mang đầy tính biểu tượng, đó là bẻ gãy ách mà Giê-rê-mia đang mang ở cổ. Với một thân thế và cách thức loan báo như thế, có lẽ Giê-rê-mia cũng phải đặt lại câu hỏi, liệu rằng những lời loan báo của Kha-nan-gia có đáng tin hay không[16]? Liệu rằng lời của Đức Chúa đã phán với bản thân Giê-rê-mia có đúng sự thật hay không? Vì trong đời ngôn sứ, có lúc Giê-rê-mia cũng cảm thấy lung lay trong ơn gọi của mình: “Phải chăng đối với con, Ngài chỉ là ngọn suối trong ảo mộng, là dòng nước mơ hồ?” (Gr 15,18). Một khoảng lặng lúc này thật sự rất có ý nghĩa đối với Giê-rê-mia, vì biết đâu Đức Chúa sẽ thôi không để cho sự dữ đè lên dân này nữa. Ông cần có thêm cơ hội để nghe tiếng Chúa rõ hơn.

Thêm nữa, sự thinh lặng cũng cho ông thời gian nhận diện đâu là điều sai lầm trong sứ điệp của Kha-nan-gia, và cũng để thấu hiểu, và xác tín hơn nữa vào sứ điệp ông loan báo. Quả vậy, sau khoảng lặng này, Giê-rê-mia nhận được sứ điệp từ Đức Chúa. Sứ điệp không mới về nội dung, nhưng có giá trị khẳng định tính chân thực: Giu-đa sẽ nhận chịu ách thống trị Ba-by-lon, nhưng ở mức nặng hơn: ách bằng sắt thay vì ách bằng gỗ; và một sứ điệp khác dành riêng ứng nghiệm cho Kha-nan-gian, đó là ông sẽ phải lãnh án phạt bằng một cái chết (Gr 28,12-16).

Như thế, chúng ta có thể nhận thấy rằng, đối với Giê-rê-mia sự thinh lặng không có nghĩa là đồng lõa với quan điểm của ngôn sứ giả, nhưng để nhận diện những sai lầm, và xác tín vào sứ điệp của Đức Chúa. Đồng thời thinh lặng cũng giúp ông có cơ hội tìm ra thời điểm và cách thức diễn tả rõ ràng hơn cho người nghe.

4. Ngôn sứ thinh lặng cho người nghe

Sự thinh lặng không chỉ là cần thiết cho chính bản thân vị ngôn sứ nhưng nó cũng cần thiết cho chính những người nghe. Tại sao?

Trước hết, chúng ta thử đặt mình trong bối cảnh sống và góc nhìn của Kha-nan-gia, không dễ gì để ông đón nhận sứ điệp của Giê-rê-mia. Thật vậy, Kha-nan-gia, một người It-ra-el, hơn nữa là một người được gọi là ngôn sứ, ông có quyền tự hào về một dân tộc được Chúa chọn (St 12,1). Dân tộc ấy đã được Chúa đồng hành ngang qua rất nhiều biến cố trong lịch sử. Dân tộc ấy đã được thừa hưởng lời hứa của Đức Chúa là trở thành một dân đông đúc, và được định cư trong một vùng đất đai trù phú (Gs 24,13). Dân tộc ấy cũng là một vương quốc đã từng có tiếng vang trong lịch sử, đến độ những người ở phương xa cũng phải tới để học hỏi văn minh và sự khôn ngoan của vương quốc này (1V 10,1-13).

Trong tiến trình vận động của lịch sử, It-ra-el đã trải qua một biến cố đáng tiếc là bị chia cắt thành hai vương quốc nhỏ (1 V 11,30). Hiện tại, vương quốc ở Miền Bắc đã không còn nữa vì bị người ngoại bang At-sua xâm chiếm. Mặc dù vậy, niềm hy vọng không bị dập tắt vì vương quốc Miền Nam vẫn tồn tại. Hơn thế, với biến cố năm 721 (tCN) thành thánh Giê-ru-sa-lem không bị phá hủy như một chứng cứ hùng hồn của Đức Chúa đã bảo vệ thành này (2 V 19,34).Vì thế, dân chúng dễ xuất hiện tư tưởng ỷ lại vào sự quan phòng của Đức Chúa. Cộng thêm với tính tự tôn dân tộc, nên dân chúng rất dễ bị cám dỗ dựa theo thế lực của Ai-cập để nổi loạn chống Ba-by-lon. Nhất là khi người ta nhận thấy Ba-by-lon là một đế quốc còn non trẻ và lại ở quá xa. Hơn nữa Đế Quốc này đang phải bận tâm với các cuộc nổi dậy ở khắp nơi[17].  

Thứ hai, với những viễn tượng vừa nêu trên, Kha-nan-gia cũng như những người đương thời không còn coi trọng lời sấm của Giê-rê-mia nữa. Với họ, lời của ngôn sứ Giê-rê-mia loan báo về ách thống trị của Ba-by-lon có thể được xem là đã ứng nghiệm qua cuộc lưu đầy lần thứ nhất xảy ra khoảng năm 598 (tCN)[18]. Như thế lời loan báo tiếp tục nhận chịu ách thống trị của Ba-by-lon trên Giu-đa lúc này không được xem là thích hợp nữa.

Tất cả những lý lẽ vừa nêu có thể hậu thuẫn rất lớn cho lời loan báo của Kha-nan-gia. Hệ quả là, lời của ông có thể tạo ra một sự bối rối trong dân khi cùng lúc họ cũng được nghe lời của Giê-rê-mia. Không chỉ dừng lại ở đó, lời của Kha-nan-gia có khả năng lôi kéo dân chống lại lời của Giê-rê-mia, ngang qua đó, gián tiếp chống lại lời của Đức Chúa.[19] Tại sao?

Xét về mục đích, chúng ta có thể nhận thấy sứ điệp của Kha-nan-gia loan báo là một tin lành, tin bình an. Đó là một mục đích đáng mong ước, đáng hy vọng. Chính Giê-rê-mia cũng thừa nhận điều này “A-men! Ước gì Đức Chúa làm như thế! Ước gì Người thực hiện các điều ông vừa tuyên sấm…” (Gr 28,6). Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ dưới góc độ thần học và chính trị, thì lời của Kha-nan gia thực sự là lời dẫn đến sự chết. 

Thật vậy, đọc lại lịch sử của dân Chúa, ta có thể dễ dàng nhận thấy căn nguyên sâu xa của tình trạng thê thảm ở It-ra-el nói chung và vương quốc Giu-đa nói riêng đó là tục thờ đa thần. Tục thờ này nở rộ vào thời Mơ-na-se (2V 21,3). Nhưng thực ra nó đã có trước đó. Kể từ sau khi Sa-lo-mon lấy nhiều bà vợ ngoại giáo, tục lệ thờ đa thần chính thức xuất hiện trong vương quốc (1V 11, 4-13). Tục lệ này đã làm phân rẽ lòng dân. It-ra-el được quy tụ thành một dân là nhờ tin vào một Đức Chúa duy nhất. Chính Đấng ấy là căn nguyên của sự hợp nhất. Nay dân không còn thờ một mình Đức Chúa nữa, mà thờ cả các thần ngoại giáo khác, tức là dân bị phân tán. Dân gắn bó mà chia niềm tin vào các thần của dân ngoại. Từ bối cảnh phân rẽ về tôn giáo sẽ dẫn tới bối cảnh phân rẽ về chính trị, vì vào thời đó, chính trị và tôn giáo gắn chặt với nhau. Hệ quả là, It-ra-el bị phân rẽ làm hai vương quốc nhỏ. Chính điều này đã khiến It-ra-el trở nên yếu ớt trước các vương quốc xung quanh vốn dĩ rất hùng mạnh. Bên cạnh đó, chính khi các vua chúa và dân không còn kính thờ Đức Chúa nữa, thì luật Chúa cũng không còn được tôn trọng. Cả vua lẫn dân không còn thực thi công bình. Một khi đời sống luân lý đi xuống, dân cũng sẽ không còn dành sự tín nhiệm vào nhau nữa. Các phe nhóm sẽ nổi lên, sự thống nhất của một dân tộc sẽ tan biến. Có lẽ ý thức được điều này, các ngôn sứ khi tuyên sấm về những tại họa sắp xảy đến, tiên vàn, họ luôn kêu gọi việc quay trở về với Đức Chúa. Đây mới chính là phương thế có tính quyết định chứ không phải lập liên minh, chuẩn bị võ trang chống lại kẻ thù[20]. Vì thế lời loan báo giải thoát khỏi ách thống trị của Ba-by-lon lúc này không phải là dân không muốn mà là chưa phải là ưu tiên cần thiết nhất.

Về mặt chính trị, chắc hẳn dân It-ra-el lúc này không thể quên được biến cố lưu đày năm 598 (tCN). Và hiện tại dân và vua Giơ-ho-gia-khin vẫn đang sống ở đất lưu đày-Ba-by-lon. Với dân, Na-bu-cô-đô-nô-xo cho những người lưu đày được tập hợp thành những khu định cư trong những ngôi làng, và được sống theo căn tính tôn giáo, truyền thống và luật pháp của mình[21]. Không những thế, dân còn được sống theo chế độ tự quản bởi các kỳ mục trong dân (Ed 8,1; 14,1;20,1-3), và được tự do trao đổi thư từ với bà con họ hàng ở Giu-đa (Gr 29.). Với chính sách này, xem ra việc đi lưu đày không quá khổ sở như người ta tưởng tượng. Như thế, với dân, lúc này, ý tưởng nổi loạn chống Ba-by-lon chưa phải là vấn đề cấp thiết. Với vua, Na-bu-cô-đô-nô-xo không giết Giơ-ho-gia-khin, nhưng đối sử tử tế. Hành động này cũng có ý ám chỉ rằng Na-bu-cô-đô-nô-xo đang có uy quyền trên vua Giu-đa, Xi-khi-gia-hu nên bỏ ý định chống lại Ba-by-lon[22].

Ngang qua việc phân tích về mặt thần học và chính trị, ta có thể nhận thấy lời loan báo của Kha-nan-gia thực sự là một lời loan báo hòa bình dễ dãi, hời hợt và thiếu bền vững.  Và lời loan báo này chỉ dựa trên kinh nghiệm truyền thống dân tộc, và cái nhìn chủ quan, mà không được đặt để trong ánh sáng của Đức Chúa, trong kế hoạch phổ quát của Ngài.

Trái lại, lời loan báo của Giê-rê-mia chấp nhận sống dưới ách thống trị của Ba-by-lon lại là một lời loan báo có tính hợp lý, và phù hợp với tình hình thực tế.  Lời loan báo ấy có thể đem lại giải pháp về sự sống sót cho dân. Tất nhiên, việc sống dưới ách thống trị của Ba-by-lon cũng chỉ có tính tạm thời, bởi lẽ Đế Quốc này rồi cũng lụi tàn, nhưng không phải trong một thời gian ngắn – hai năm như Kha-nan-gia loan báo. Tuy nhiên, lời của Giê-rê-mia cũng có tính thách thức đức tin của dân Chúa. Chỉ những ai có niềm tin thực sự vào Đức Chúa mới ý thức được rằng chính Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài. Nếu Ngài đã để dân phải chịu cảnh ách thống trị một thời gian, thì dân Chúa cũng phải đón nhận – như là một thứ hệ quả của tội lỗi, rồi Chúa cũng sẽ giải thoát họ.[23] Như thế lệnh truyền của Đức Chúa không thể được hiểu như một thuyết định mệnh, nhưng hoàn toàn có phần đóng góp của con người[24].

Đến đây chúng ta nhận thấy có sự đối kháng rõ rệt giữa hai sứ điệp: một bên đón nhận ách thống trị (một điều bất đắc dĩ phải chấp nhận, vì chính Giê-rê-mia cũng coi đó là một cái ách chứ không phải là một miếng bánh ngọt) và một bên là nhất quyết chống lại ách thống trị của Ba-by-lon. Một bên ngôn sứ cố gắng nói theo những gì lòng dân và lãnh đạo suy nghĩ và mong đợi, còn một bên dám nói lên sự thật đang diễn ra, và những hệ quả khôn lường có thể xảy đến.  

Vậy làm thế nào để có thể hai quan điểm đi đến gặp gỡ được nhau? Có lẽ chỉ là khoảng lặng. Khoảng lặng giúp cho người nghe có thể bước đến những biên cương suy tư của đối phương. Khoảng lặng có thể giúp lòng người nghe bớt nóng giận, bớt phản kháng cách tự phát. Khoảng lặng để người nghe có thể nhận định ra được những giới hạn trong quan điểm của mình. Khoảng lặng để người nghe có cơ hội hoán cải.    

III. Ý nghĩa của sự thinh lặng trong sứ vụ ngôn sứ của người Ki-tô hữu

Ngày nay người Ki-tô hữu khi lãnh nhận phép rửa tội, đồng thời họ cũng lãnh nhận chức năng làm ngôn sứ. Vấn đề quan trọng đặt ra cho người Ki-tô hữu là cách thức làm ngôn sứ.

Có không ít người quan niệm rằng làm ngôn sứ là luôn phải lên tiếng. Vì thế không ít lần do lòng nhiệt tâm mà quên đi đến cách thức lên tiếng và cũng quên luôn cả đối tượng mình đang rao giảng. Có nhiều lúc họ bị đẩy đến một tình trạng tranh luận mang tính ăn thua với đối phương. Và như thế lời rao giảng lại trở nên phản tác dụng. Thay vì thuyết phục được người nghe trở về, thì người ngôn sứ lại làm người ta bị tổn thương trước khi đón nhận chân lý, hoặc đẩy người ta phản kháng cách tự phát do tính tự ái và tự kiêu.

Để tránh được tình trạng trên, có lẽ người Ki-tô hữu khi thực thi sứ vụ ngôn sứ cần học cung cách của Giê-rê-mia, đó là có những lúc phải chọn lựa giải pháp thinh lặng. Trước hết, sự thinh lặng cho thấy người ngôn sứ luôn tôn trọng tự do của người nghe. Bên cạnh đó, sự thinh lặng cũng là khoảng thời gian cần thiết để người ngôn sứ xác tín vào sứ mạng mình rao giảng. Đồng thời, họ cũng có cơ hội để điều chỉnh bản thân tìm ra cách thế và thời điểm thích hợp để rao giảng nhằm đem lại tác dụng hiệu quả cho người nghe.

Về phía người nghe, khoảng lặng này giúp họ có thời gian nhiều hơn nữa để có thể lãnh hội sứ điệp của người ngôn sứ, cho họ có khoảng thời gian để phân định và tìm về lẽ phải. Đặc biệt, cho họ thời gian để chọn lựa và quyết định. Vì lẽ này, thinh lặng không hàm ý thua cuộc, hay đồng lõa, nhưng cũng là lời loan báo.

Kết luận: Qua việc tìm hiểu về sự thinh lặng của ngôn sứ Giê-rê-mia chúng ta hiểu được khó khăn, thách đố của người ngôn sứ khi đảm nhiệm việc rao giảng sứ điệp của Đức Chúa. Sứ điệp thì rõ ràng nhưng không phải luôn luôn dễ dàng công bố.

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu này phần nào cũng giúp ta khám phá ra một đặc tính mới trong việc rao giảng và làm chứng của người ngôn sứ. Có một thứ ngôn ngữ không lời của người ngôn sứ cũng đem lại hiệu quả không kém. Thật vậy, ngày nay dù các ngôn sứ không lên tiếng nữa, nhưng sứ điệp của các ngài vẫn còn tác động nơi đời sống của người tin. Bởi vì, thực ra chính Chúa mới có thể làm cho Lời có sức sống, chính Chúa mới làm cho Lời của Ngài phát huy hiệu năng: “...một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó”. (Is 55,10-11).

Khám phá ra ý nghĩa này, người Ki-tô hữu ngày hôm nay cảm thấy tự tin và vững vàng hơn khi đảm nhiệm sứ mạng ngôn sứ, nhất là khi họ phải chấp nhận rao giảng trong sự thinh lặng.

                  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Miller, Patrick D. The New Interpreter’s Bible. Abingdon Nashvill.
  2. Couturier, Guy., C.S.C. The Jerome Biblical Commentary. ed Raymond E. Brown, S.S, Joshep A. Fitzmyer, S.J, Roland E. Murphy, O.CARM. New Jersey: Prentice – Hall, Inc. Englewood Cliffs.
  3. Bozak, Barbara. The International Bible Commentary. Ed William R. Farmer. Minnesota: The Liturgical Press.
  4. O’Conno, Kathleen M. r. The Oxford Bible Commentary. ed John Barton and John Muddiman. London: Oxford University Press,2001.
  5. Dempsey, Carol OP. Jeremia – Preacher of Grace, Poet of Truth. Collegeville, Minnesota.
  6. Martens, Elmer A. Jeremiah.Herald Press, Scottdale, Pennsylvania, Kitchener, Ontario, 1986.
  7. Huey, F. (2001, c1993). Vol. 16: Jeremiah, Lamentations (electronic ed.). Logos Library System; The New American Commentary (245). Nashville: Broadman & Holman Publishers.
  8. Clements, R. E. (1988). Jeremiah. Interpretation, a Bible commentary for teaching and preaching (165). Atlanta: J. Knox Press.
  9. Holladay, W. L., & Hanson, P. D. (1989). Jeremiah 2 : A commentary on the Book of the Prophet Jeremiah, chapters 26-52. Hermeneia–a critical and historical commentary on the Bible (126). Minneapolis: Fortress Press.
  10. McKane, W. (1986). A critical and exegetical commentary on Jeremiah (709). Edinburgh: T&T Clark International.
  11. Keown, G. L. (2002). Vol. 27: Word Biblical Commentary : Jeremiah 26-52. Word Biblical Commentary (43). Dallas: Word, Incorporated.

Blenkinsopp, Joseph. A History of Prophecy in Itrael. Westminster John Knox Press, Luisville, Kentucky.

[1] Đúng ra phải gọi là “ách”. Trong Tiếng Việt “gông” là dụng cụ thời trước làm bằng một khung gỗ có then đóng mở, dùng để bắt phạm nhân có án nặng đeo vào cổ. Còn, “ách” là đoạn gỗ cong mắc lên cổ trâu bò để buộc dây kéo xe hoặc cày (Xem Khoa Học – Xã Hội- Nhân Văn, Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức).

[2] Xem Carol Dempsey OP, Jeremia – Preacher of Grace, Poet of Truth, (Collegeville, Minnesota), p 48.

[3] Guy. Couturier, C.S.C, The Jerome Biblical Commentary, (ed Raymond E. Brown, S. S, Joshep A. Fitzmyer, S.J, Roland E. Murphy, O.CARM. Prentice – Hall, Inc. Englewood Cliffs, New Jersey 287.

[4] Bản dịch WTT

[5] Bản dịch BGT

[6] Bản dịch VUL

[7] Bản dịch lấy từ http://www.vatican.va/archive/ITA0001/__PP4.HTM

[8] Bản dịch NAS

[9] Xem Clements, R. E. (1988). Jeremiah. Interpretation, a Bible commentary for teaching and preaching (165). Atlanta: J. Knox Press

[10] Xem Huey, F. (2001, c1993). Vol. 16: Jeremiah, Lamentations (electronic ed.). Logos Library System; The New American Commentary (245). Nashville: Broadman & Holman Publishers.

[11] Xem McKane, W. (1986). A critical and exegetical commentary on Jeremiah (709). Edinburgh: T&T Clark International.

[12] Xem Brown, R. E., Fitzmyer, J. A., & Murphy, R. E. (1996, c1968). The Jerome Biblical commentary (1:324). Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall.

[13] Xem Clements, R. E. (1988). Jeremiah. Interpretation, a Bible commentary for teaching and preaching (165). Atlanta: J. Knox Press.

[14] Xem Elmer A. Martens. Jeremiah. (Herald Press, Scottdale, Pennsylvania, Kitchener, Ontario), 1986, tr 175.

[15] Xem Keown, G. L. (2002). Vol. 27: Word Biblical Commentary: Jeremiah 26-52. Word Biblical Commentary (43). Dallas: Word, Incorporated.

[16] Xem Holladay, W. L., & Hanson, P. D. (1989). Jeremiah 2: A commentary on the Book of the Prophet Jeremiah, chapters 26-52. Hermeneia–a critical and historical commentary on the Bible (126). Minneapolis: Fortress Press

[17] Xem Huey, F. (2001, c1993). Vol. 16: Jeremiah, Lamentations (electronic ed.). Logos Library System; The New American Commentary (245). Nashville: Broadman & Holman Publishers.

[18]  Xem Barbara Bozak, The International Bible Commentary, (The Liturgical Press, Collegevill, Minnesota) p 1027-1028.

[19] Xem Patrick D. Miller, The New Interpreter’s Bible, (Abingdon Nashvill), p 784-785.

[20] Xem Keown, G. L. (2002). Vol. 27: Word Biblical Commentary : Jeremiah 26-52. Word Biblical Commentary (43). Dallas: Word, Incorporated.

[21] Xem Joseph Blenkinsopp, A History of Prophecy in Itrael, (Westminster John Knox Press, Luisville, Kentucky)tr 149.

[22] Xem McKane, W. (1986). A critical and exegetical commentary on Jeremiah (709). Edinburgh: T&T Clark International.

[23] Xem Kathleen M. O’Connor, The Oxford Bible Commentary, (ed John Barton and John Muddiman. London: Oxford University Press,2001), p 511.

[24] Xem Clements, R. E. (1988). Jeremiah. Interpretation, a Bible commentary for teaching and preaching (165). Atlanta: J. Knox Press