Trực giác (intuition) trong siêu hình học của Henri Bergson

Môn học: Siêu hình học
Giáo sư: Vũ Uyên Thi, S.J.
Học viên: Phạm Quang Khanh, S.J.

 

 Trong cuộc sống thường ngày, con người đối diện với biết bao sự vật và thực tại khác nhau, trong đó có chính bản ngã của mình. Dầu vậy, hiểu thấu đáo về bản chất của sự vật xem ra không phải đơn giản dễ dàng. Khoa học thường tự tin với những khẳng định liên quan tới bản chất của sự vật. Thế nhưng, với khái niệm Trực giác (Intuition) của Henri Bergson,  sự tự tin của khoa học xem ra bị lung lay. Vậy, trực giác là gì và trực giác giúp hiểu bản chất của sự vật ra sao? Bài viết là một nỗ lực trả lời cho những câu hỏi vừa nêu.

 

Dẫn nhập

Tự bản chất, triết học luôn nêu lên những thắc mắc về mọi vấn đề, mọi lĩnh vực, thậm chí trong những lĩnh vực mà người ta tưởng chừng chắc chắn nhất như khoa học. Henri Bergson, một nhà siêu hình học ở thế kỷ XX, đã làm công việc của một triết gia đích thực khi chất vấn khoa học về tính đúng đắn của thực tại hay bản chất sự vật mà khoa học giả thiết. Kết quả là, ông cho ra đời một quan niệm trực giác (Intuition) mang “thương hiệu” Bergson. Vậy trực giác ấy là gì? Liệu nó có khám phá được bản chất đích thật của sự vật hay không? Bài viết này là một nỗ lực tìm hiểu trực giác ấy. Trước khi bàn về trực giác, thiết tưởng sẽ là hữu ích khi nói qua về cách nhận thức phân tích, một cách mà Bergson cho là đối lập với trực giác.

  1. Phân tích – một cách nhận thức tương đối về thực tại

            Mở đầu bài luận An Introduction to Metaphysics, Henri Bergson nói về hai cách thế khác nhau để nhận thức thực tại. Cách thứ nhất được ông miêu tả tựa như chuyện chúng ta đi vòng quanh sự vật. Vì đi quanh sự vật nên cách nhận thức này phụ thuộc vào vị trí ta chọn để quan sát sự vật, phụ thuộc vào biểu tượng ta dùng để diễn đạt những gì quan sát được. Kết quả, tri thức chúng ta thủ đắc được chỉ mang tính tương đối. Bergson gọi đó là cách phân tích. Để minh họa cho cách nhận thức phân tích này, Henri Bergson đã đưa ra hai ví dụ rất gần gũi với đời thường. Ở ví dụ quan sát một vật chuyển động trong không gian, mỗi vị trí Bergson lựa chọn để quan sát sẽ mang đến những kết quả khác nhau. Đồng thời, mỗi hệ trục tọa độ hay các điểm tham chiếu mà ông dùng để mô tả sự vật cũng cho ra những cách diễn đạt khác nhau. Rốt cuộc, dù chọn vị trí nào đi nữa, Bergson vẫn ở bên ngoài sự vật nếu ông sử dụng cách phân tích. Điều tương tự cũng xảy ra đối với ví dụ về một nhân vật trong tiểu thuyết. Tức là, dù Bergson có dùng những lời lẽ tỉ mỉ, những phương pháp mô tả cặn kẽ đến mấy, ông cũng không thể biết được nhân vật ấy thực sự là gì. Vì sao vậy? Đơn giản là vì ông vẫn ở ngoài nhân vật. Khi nào ông còn đứng ở vị trí đó, khi ấy những nét mô tả của ông chỉ có thể tạo nên một ai đó na ná, hay một bản sao so với “bản gốc” mà thôi.[1]

            Theo cách nhìn của Bergson, phân tích đồng nghĩa với việc quy giảm cái phức tạp, hay cái tổng thể thành các thành tố đơn giản hơn. Nó giống như một đối tượng vật lý bị giảm trừ thành những phân tử, nguyên tử và cuối cùng là những hạt hạ nguyên tử.[2] Hay nói như S.E. Frost, phân tích đã cắt một lát mỏng trong tổng thể vũ trụ sống động và khẳng định rằng lát mỏng đó chính là vũ trụ.[3] Nôm na hơn, nhận thức phân tích chẳng khác gì chuyện thầy bói xem voi. Mỗi ông thầy chỉ sờ được một bộ phận của con voi, tức là nắm bắt được một phần sự thật của nó, nhưng lại dám khẳng định chắc nịch về một con voi tổng thể. Vì thế, cách phân tích có những hạn chế nhất định. Hạn chế rõ ràng nhất chính là “tội” không cho ta thấy bản chất sự vật. Chắc chắn, con voi không phải cái cột nhà, không phải cái quạt mo, cũng chẳng phải cái chổi như các thầy bói khẳng quyết. Nặng nề hơn, Bergson còn có thể quy cho cách phân tích tội “xuyên tạc” bản chất sự vật. Vì lẽ, khi mô tả sự vật, phân tích đã quy chiếu về một cái gì đó khác với chính sự vật ấy. Ngôn ngữ phân tích có khuynh hướng cường điệu hóa bằng việc dùng nhiều ký hiệu, nhiều hệ tham chiếu khác nhau. Triết gia Whitehead cũng đồng ý với Bergson khi cho rằng nhận thức phân tích đã sai lầm khi “giả định các sự kiện tồn tại độc lập với nhau.”[4]

            Tóm lại, theo Bergson, nếu chỉ dùng cách phân tích, mọi thực tại vẫn chỉ là “vật tự thân” theo một nghĩa nào đó như cách nói của Kant. Cách phân tích không những không cho ta thấy bản chất thực tại, nhưng lại còn làm sai lạc bản chất ấy. Liệu có cách nào khác giúp ta biết được bản chất sự vật không? Bergson trả lời rằng đó là trực giác.

  1. Trực giác trong siêu hình học của Bergson

Nếu như cách phân tích chỉ đứng ở bên ngoài để quan sát và tri nhận sự vật, thì trực giác lại hoàn toàn khác. Trực giác có nghĩa là gì? Trong bài luận An Introduction to Metaphysics, Bergson nói rằng “ở đây, chúng ta gọi trực giác là sự đồng cảm mà qua đó một người đặt mình vào bên trong sự vật để đồng nhất với cái duy nhất trong nó và do đó không thể diễn tả được.”[5] Như thế, trực giác cho phép con người tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiểu biết trực tiếp sự vật, ý thức trực tiếp về thực tại. Con người có một cái nhìn không phân biệt với vật được nhìn. Khi ấy, con người trùng khớp với sự vật, với đối tượng được tri nhận. Kết quả là, ta không còn lệ thuộc vào vị trí hay bất kỳ biểu tượng nào nữa. Vì thế, tri thức ta thủ đắc được sẽ là tri thức tuyệt đối.

Theo Bergson, một đặc nét quan trọng của trực giác là gắn liền với thời gian. Chính đặc nét này tạo nên sự khác biệt giữa tư duy phân tích và tư duy trực giác. Ông không đồng tình với các triết gia như Descartes, Plato hay Kant…vì họ giải thích thế giới qua những “tư tưởng cố định”[6] hay trạng thái bất động của sự vật. Đó là cách làm của phân tích, một cách làm khởi sự từ sự vật tĩnh và xây dựng lại chuyển động bằng việc đặt các sự vật bất động cạnh nhau. Hệ quả là, cách này tuy không làm mất đi điều gì, nhưng lại chẳng tạo ra điều gì mới. Ngược lại, “trực giác, vì gắn liền với thời gian, tức là sự tăng trưởng, nó nhận thức được trong đó một sự liên tục không đứt quãng của một cái mới không thể biết trước.”[7] Chính từ đây, Bergson đã khám phá ra nơi mọi sự vật một quá trình mà ông gọi là kỳ gian hay tính kéo dài (Duration). Kỳ gian của Bergson giúp ta hiểu rõ hơn về khái niệm thời gian. Nếu như các nhà khoa học xem thời gian có thể được phân chia thành những đơn vị đo lường bằng nhau như giờ, phút hay giây, thì thời gian của Bergson là sự liên tục không ngắt quãng, không thể phân chia. Kỳ gian thực hữu của Bergson hoàn toàn khác so với thời gian xã hội hóa và “không gian hóa.”[8] Kỳ gian ấy không phải là thời gian chúng ta thường thấy trong không gian hay nhìn trên mặt đồng hồ. Đồng thời, các sự vật tồn tại là tồn tại trong thời gian, trong sự liên tục, nên trí tuệ con người chỉ có thể cảm nhận được từng phần của mọi sự vật. Chỉ có trực giác mới tri nhận được sự tồn tại trong thời gian. Bergson mô tả điều này giống như chuyện ta nghe một đoạn nhạc. Trong đoạn nhạc, ta không chỉ nghe nốt nhạc tại khoảnh khắc nó được vang lên, nhưng còn nghe được cả nốt trước và nốt sau nó nữa. Đồng thời, ở quy mô lớn hơn, đoạn nhạc ta nghe cũng không bị tách rời với đoạn nhạc trước và đoạn nhạc kế tiếp. Hiểu như thế, “quá khứ, hiện tại và tương lai không thể tách rời nhau để chúng ta có thể biết được quá khứ, bởi vì chỉ có hiện tại và hiện tại luôn luôn hiện diện cho kinh nghiệm.”[9]

Vậy đối tượng của trực giác là gì? Nếu trả lời chung chung, đối tượng của trực giác sẽ là chuyển động, là sự trở thành, là khoảng thời gian. Một cách cụ thể, Bergson nói: “có ít nhất một thực tại mà tất cả chúng ta đều có thể hiểu được từ bên trong, bằng trực giác chứ không phải bằng phân tích. Đó là bản ngã của chính chúng ta trong dòng chảy thời gian của nó, một bản ngã kéo dài.”[10] Giống như “Cogito, ergo sum” của Descartes, Bergson quan niệm rằng trực giác về bản ngã là một điều chắc chắc, vì chúng ta tự tri giác về chính mình từ bên trong, chứ không phải từ bên ngoài. Và, trực giác chỉ ra rằng bản ngã là một sự tồn tại trong thời gian, là một dòng chảy liên tục. Để diễn giải dòng chảy liên tục này, Bergson nại đến sự thay đổi không ngừng nơi các trạng thái như nóng lạnh, vui vẻ, hay buồn sầu của bản ngã. Ngoài ra, hình ảnh một sợi chỉ cuốn vào trái bóng, hay một sợi dây cứ kéo dài mãi cũng được Bergson dùng để nói loại suy về bản ngã. Dầu vậy, ông vẫn chưa hài lòng ở đó. Với ông, dòng chảy liên tục nơi bản ngã thì triệt để hơn những gì ông miêu tả, rằng sự tồn tại liên tục của bản ngã không phải là sự kế tiếp theo kiểu khoảnh khắc này thay thế khoảnh khắc khác.[11] Nói như Robert Wicks, “chúng ta giống như dòng nước chảy hơn là miếng đá hình khối, giống như một năng lượng dao động hơn là một chòm sao tĩnh lặng.”[12] Vì thế, để có thể thủ đắc được chân lý tuyệt đối, chúng ta phải đi với dòng chảy của thời gian để nắm rõ về bản thân mình. Với Bergson, thực tại đầu tiên chính là thời gian. Thời gian sinh ra mọi sự. Vì lẽ đó, khi chúng ta có được trực giác về bản thân mình như những hữu thể cơ bản trong thời gian, chúng ta cũng sẽ tiến tới lực đẩy vốn dẫn dắt sự phát triển mang tính lịch sử và tiến hóa. Kết quả, tri thức về bản thân mình đưa đến tri thức về vũ trụ.[13]

Vũ trụ hay thực tại do trực giác khám phá ra cũng là một dòng chảy liên tục, chứ không phải là những thành phần hay các bộ phận. Đối với Bergson, thực tại tức là đang chuyển động và đang trở thành (becoming) với một nội lực mà ông gọi là đà sống (Elán vital). Đà sống là yếu tố nội tại cơ bản của mọi sự vật. Chính đà sống giữ vai trò nền tảng cho mọi chuyển động nơi các sự vật. Và cũng chính đà sống ấy mới giải thích được về sự tiến hóa nơi các sự vật. Bởi lẽ, đà sống luôn thúc đẩy các sự vật vươn tới những cấu trúc phức tạp hơn và cao hơn. Đây là điều mà Bergson cho rằng Elán Vital của ông đã giải quyết được thiếu sót trong thuyết tiến hóa của Darwin, thiếu sót của việc chưa giải thích được làm thế nào các sự vật có thể vượt qua “khoảng cách” từ một cấp độ thấp tới một cấp độ cao hơn.[14]

Trực giác của Bergson sẽ được hiểu rõ hơn nếu ta đặt nó trong mối tương quan với trí năng. Liệu trực giác của Bergson có hoàn toàn khác biệt so với trí năng không? Trước hết, khi nói về trí năng, Bergson cho rằng hình như trí tuệ chúng ta và vật chất có một sự “am hợp” nào đó như thể trí tuệ được làm ra để phân tích và sử dụng vật chất.[15] Ông mạnh mẽ khẳng định rằng trí năng là sự nối dài của các giác quan, và cấu trúc của trí năng chắc chắn được rập theo cấu trúc của vật chất nên nó phù hợp với cách thức phân tích. Theo Bergson, khi sử dụng phân tích, trí tuệ cũng không có khả năng khám phá ra được chính bản ngã đích thực của mình. Thậm chí, Bergson còn đưa ra một ví dụ cụ thể trong tâm lý học. Đó là, dù có nỗ lực tìm hiểu phân tích, thì tâm lý học cũng chỉ là phân chia bản ngã thành những “trạng thái” của cảm xúc hay của tình cảm một cách riêng biệt. Các nhà tâm lý nghĩ rằng họ tìm ra được cái “tôi”, nhưng thực chất đó chỉ là những trạng thái đã được “di dời” ra khỏi cái “tôi” mà thôi.[16]

Khác với trí năng, trực giác hướng về sự sống, hướng về dòng chảy liên tục của thời gian. Sự phân biệt này được Bergson đề cập tới khi ông nói về hai nguồn phát sinh đạo đức. Nếu như trí tuệ giống như nguồn thứ nhất, tức là cảm giác về nhu cầu cần liên kết với nhau, và do đó xã hội đặt ra những quy ước bó buộc nhau, thì trực giác tựa như nguồn thứ hai nằm ở nơi thâm sâu của tình cảm, chạm đến được bởi gương sáng của những người có đạo đức cao cả.[17] Đồng thời, sự khác biệt giữa trí tuệ và trực giác cũng được thể hiện trong hai kiểu tôn giáo của Bergson. Nếu như tôn giáo tĩnh là một tôn giáo của việc rập khuôn theo xã hội, thì tôn giáo động có bản chất thần bí, theo sát khái niệm trực giác của Bergson.[18] Một cách ngắn gọn, với Bergson, trí năng liên quan tới vật chất, còn trực giác liên quan tới sự sống, liên quan tới năng động. Dù khác nhau như thế, nhưng phải chăng giữa trí năng và trực giác vẫn có một mối tương quan nhất định? Tác giả Frederick Copleston, S.J. cho rằng trong thực tế phải có một sự trao đổi qua lại giữa trực giác và trí năng. Trí năng phải gắn chính nó với nội dung của trực giác, và những gì trí năng làm phải được kiểm tra và chỉnh sửa bằng cách quy chiếu về trực giác.[19]

Tóm lại, đối với Henri Bergson, tất cả các sự vật trong vũ trụ này đều không ngừng thay đổi. Trong chính sự thay đổi ấy, kỳ gian hay dòng chảy của thời gian chính là nền tảng của mọi thực tại. Dòng chảy mà ta thực sự kinh nghiệm cách chắc chắn nhất, trước nhất, trực tiếp, ngay lập tức và không qua các giác quan chính là bản ngã. Khởi đi từ trực giác về bản ngã, ta sẽ biết được bản chất của các thực tại khác.[20]

  1. Một vài phê bình về trực giác của Henri Bergson

Xét về mặt tích cực, khái niệm trực giác của Henri Bergson giúp cho những người làm khoa học phải “giật mình” xem lại thái độ tự tin và sự chắc chắn trong những tri thức mà khoa học giả định. Khoa học vẫn tin vào những giả định rằng “thiên nhiên gồm các vật thể vật chất chiếm chỗ trong không gian.”[21]Tức là, vật chất trở thành chất liệu cơ bản cấu thành mọi sự vật. Đồng thời, các sự vật trong vũ trụ ví như thể những cỗ máy được lắp ráp một cách chính xác và hợp quy tắc. Thậm chí, bản chất con người cũng bị xem xét dưới cái nhìn vật chất và máy móc như vậy. Với khái niệm trực giác, Bergson khám phá ra một sự năng động đặc biệt nơi mọi thực tại. Các sự vật đều biến đổi không ngừng với bản chất là dòng chảy liên tục trong thời gian.

Về mặt hạn chế, từ ngữ “đồng cảm” trong định nghĩa trực giác của Bergson cần phải được nêu ra trước tiên. Cứ cho rằng Bergson hoàn toàn có lý khi nói về sự chắc chắn của tri thức tuyệt đối nơi bản ngã của chính mình. Thế nhưng, tính khả thi của tri thức tuyệt đối về người khác thì sao? Liệu từ ngữ “đồng cảm” trong định nghĩa về trực giác của Bergson có thực hiện được hay không? Thực tế cho thấy, rất khó để đặt mình đầy đủ và trọn vẹn vào vị trí của người khác hầu có thể đồng hóa với họ. Chẳng hạn, một người mẹ, dù gần gũi và hiểu đứa con của mình đến mấy cũng khó lòng có được cùng một phản ứng hay cùng một cảm xúc với người con khi nó bị bạn bè lăng nhục hay được cô giáo khen thưởng. Và sự đồng cảm sẽ trở nên khó hơn nữa khi ta nỗ lực đặt mình vào vị trí của những người ta chẳng hề quen biết, hay họ hoàn toàn khác biệt về văn hóa, về phong tục tập quán và lối sống. Vả lại, làm sao một người chưa từng có kinh nghiệm về sự mất mát của các thành viên hay người thân trong gia đình có thể đặt mình trọn vẹn để thấu cảm nỗi đau thẳm sâu của những ai đang phải chứng kiến cảnh chia lìa tang tóc. Hóa ra, trong những trường hợp như vậy, tri thức tuyệt đối nhờ trực giác xem ra phải cần tới kinh nghiệm trước, và nếu không, nó chỉ là hời hợt bề ngoài chăng? Còn nữa, sự “đồng cảm” giữa con người với nhau xem ra có phần khả thi hơn, vì ít ra họ cũng có chung những kinh nghiệm như buồn vui, giận hờn, hy vọng hay sợ hãi. Tuy nhiên, làm sao con người có thể “đồng hóa” để cảm nhận xem một con vật nuôi như con chó giận hờn ra sao hay vui mừng thế nào?

Kế đến, khái niệm trực giác của Bergson sẽ kéo theo một hệ quả liên quan tới việc chối bỏ cảm giác chung của một người về sự không thay đổi nơi căn tính cá nhân.[22] Với trực giác, mọi thực tại đều luôn thay đổi, đều trong dòng chảy liên tục của thời gian. Bergson còn khẳng định rằng dòng chảy liên tục nơi bản ngã là điều ta kinh nghiệm trực tiếp và chắc chắc nhất. Thế nhưng, với cảm giác chung, chúng ta thường thấy bản thân mình tương đối bất biến, chứ không phải thay đổi hết lúc này tới lúc khác. Làm sao có thể dung hòa được điều này?

Thêm vào đó, với khái niệm trực giác, siêu hình học của Bergson mang dáng dấp một hình thái phi truyền thống. Tức là, ông không chấp nhận mọi cách giải thích theo kiểu cấu trúc hay khái niệm hệ thống liên quan tới bản chất sự vật. W.T. Jones gọi điều này là “không bình thường” và phi lý trí, phi mục đích như khái niệm ý chí (will) mù quáng của Schopenhauer. Vì, kinh nghiệm mà không có cấu trúc hay tổ chức do các khái niệm cung cấp thì chỉ là một câu “á” hay “ối” không phân định rõ ràng. Cái cảm giác có thể rất mạnh mẽ, đánh động, thu hút nhưng nó không biết đó là gì, và có ý nghĩa như thế nào.[23]

 

Kết luận

Với khái niệm trực giác, Henri Bergson đã phát triển siêu hình học bằng nỗ lực đặt vấn đề và đi tìm bản chất của thực tại. Trực giác đã khám phá ra nơi thực tại, trước nhất và chắc chắn nhất là nơi bản ngã của chủ thể, một dòng chảy không ngừng trong thời gian. Bản chất của sự vật là tồn tại trong thời gian. Vì thế, thực tại không thể phân tách hay chia cắt được. Chỉ có trực giác mới nhận biết được sự “liên tục” này, chứ nhận thức phân tích khoa học không thể nào tri nhận được bản chất thực tại. Có lẽ, quan điểm trực giác của Bergson không hàm ý phủ nhận sạch trơn vai trò của khoa học, nhưng là một chiến thuật win-win, cả hai cùng có lợi. Nói như Stumpf “triết học phải theo sau khoa học để đặt lên chân lý khoa học một loại nhận thức khác, có thể gọi là chân lý siêu hình học. Và khi mọi tri thức của chúng ta được kết hợp như thế, cả tri thức khoa học và siêu hình học sẽ được nâng cao.”[24] Muốn được như vậy, thiết tưởng sự phản tỉnh của lý trí nên có một chỗ đứng nào đó trong khái niệm trực giác của Henri Bergson.

[1] Henri Bergson, The Creative Mind: An Introduction to Metaphysics (Newyork: Dover Publications, Inc, 1946), 133.

[2] Frederick Copleston, S.J., A History of Philosophy, Volume IX (Newyork: Image Books, 1994), 181.

[3] S.E. Frost, Những vấn đề cơ bản của triết học, Đông Hương and Kiến Văn trans (Hà Nội: NXB Từ điển Bách Khoa, 2008), 72.

[4] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn and Lưu Văn Hy trans (Hà Nội: NXB Lao Động, 2004), 349.

[5] Henri Bergson, The Creative Mind: An Introduction to Metaphysics, 133.

[6] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 348.

[7] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 346.

[8] Jean Wahl, Lược sử triết học Pháp, Nguyễn Hải Bằng trans (Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006), 143.

[9] Ted Honderich, Đồng hành cũng triết học, Lưu Văn Hy trans (Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2002), 126.

[10] Henri Bergson, The Creative Mind: An Introduction to Metaphysics, 133-136.

[11] Bernard Morichère, Triết học Tây Phương từ khởi thủy đến đương đại, Phan Quang Định trans (Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2008), 993.

[12] Robert Wicks, Modern French Philosophy – from Existentialism to Postmodernism (England: Oneworld Publications, 2003), 22.

[13] Robert Wicks, Modern French Philosophy – from Existentialism to Postmodernism, 23.

[14] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 347.

[15] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 345.

[16] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 345.

[17] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 348.

[18] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 349.

[19] Frederick Copleston, S.J., A History of Philosophy, Volume IX, 199.

[20] Bryan Magee, Câu chuyện triết học, Huỳnh Phan Anh- Mai Sơn trans (HMC: XNB Thông kê, 2003), 277.

[21] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 342.

[22] Robert Wicks, Modern French Philosophy – from Existentialism to Postmodernism , 25.

[23] W.T. Jones, Kant to Wittgenstein and Sartre: A History of Western Philosophy (Newyork: Harcourt, Brace & World, Inc, 1952), 280.

[24] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, 343.