Home » Những đòi hỏi về học thuật

Những đòi hỏi về học thuật

NHỮNG ĐÒI HỎI VỀ HỌC THUẬT

I. Các hình thức học tập

Chương trình học của Học viện hiện nay, ngoài một số hình thức giảng day cơ bản như các buổi học (courses), chuyên đề (seminars) và các bài thuyết trình (conferences), còn đòi hỏi một số sinh hoạt ngoại khóa sau:

  1. Học nhóm

Các học viên được khuyến khích hình thành các nhóm học tập. Mục tiêu của việc học nhóm là mang lại sự khích lệ cho việc học, giúp nhau lĩnh hội các nội dung trí thức của các môn học và phát triển các khả năng thảo luận (lắng nghe và lập luận)[1].

Nếu có yêu cầu, các giáo sư sẽ đề nghị sách, các bài viết hoặc các trích đoạn đặc biệt thích hợp với công việc của các nhóm. Mỗi học viên sẽ viết lại chương trình đã được nhóm của mình thực hiện trong bài tổng kết cuối năm (xem phần 2 của bài tổng kết cuối năm học).

  1. Đọc sách cá nhân

Mỗi học viên được khuyến khích để xây dựng cho mình từ đầu năm học “kế hoạch đọc sách”. Học viên có thể trao đổi việc này với Ban học vụ hoặc các giáo sư. Việc đọc sách này không chỉ giúp học viên chuẩn bị, đào sâu tri thức hoặc tham gia tích cực vào các lớp học mà còn giúp học viên có thói quen đối diện với những vấn đề được nêu lên trong các tác phẩm. Việc đọc sách này sẽ được lượng giá vào cuối năm qua việc trình bày hai “hồ sơ đọc sách” (xem phần 2 của bài tổng kết cuối năm).

  1. Luận Văn tốt nghiệp

Học viên được yêu cầu thực hiện một bài luận tốt nghiệp mang tính học thuật trong năm học cuối cùng. Ðây là một công việc mang tính nghiên cứu và được đào sâu một cách thỏa đáng về một chủ đề triết học. Đề tài phải phù hợp và có liên quan đến các lãnh vực triết học đã học trong chương trình.

Về nội dung, bài viết phải chứng tỏ cho thấy hiểu thấu đáo và đầy đủ một vấn đề, khả năng lập luận có sức thuyết phục, khả năng đưa ra một phán đoán cá nhân dựa trên nền tảng chung của triết học.

Về cách thức, bài viết phải được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một giáo sư. Ðề tài nghiên cứu phải được giám học chấp thuận. Ðộ dài thông thường khoảng chừng 12.000 từ. Bài viết phải được trình bày theo tiêu chuẩn của một luận văn (thesis) bao gồm tựa đề, phụ đề (nếu có) của bài viết và các tài liệu tham khảo gồm những tác phẩm được sử dụng trong bài viết dưới dạng trích đoạn hay trích ý, mục lục, phụ lục (nếu có).

  1. Việc sử dụng các nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu học tập chính hiện nay là các tài liệu do giáo sư cung cấp hoặc chỉ định cũng như các sách trong thư viện. Các học viên cần tập thói quen làm việc tại thư viện. Ngoài ra, các học viên được khuyến khích tiếp cận những nguồn tài liệu mới (các tài liệu nghe nhìn, tạp chí online, phim ảnh, internet,v.v…). Tuy nhiên, khi sử dụng những tài liệu trên, nhất là trong bài viết, các học viên cần cân nhắc kỹ càng và nhất là phán đoán mức độ khả tín của các tài liệu ấy. Dù trong trường hợp nào, việc ghi rõ xuất xứ (footnotes) là điều bó buộc. Tuyệt đối không vi phạm quy tắc đạo văn. Nếu một học viên vi phạm nguyên tắc này, bài viết hoặc luận văn của học viên đó sẽ bị loại.

* Cách thức soạn thảo văn bản khi viết bài

Học Viện Thánh Giuse chọn theo các qui tắc soạn thảo văn bản như tác giả Kate L. Turabian đề nghị trong cuốn A Manual for Writers of Term Papers, Theses, and Dissertations (seventh edition).

(Một cách cụ thể, liên quan tới cách viết footnotes và liệt kê bibliography, xin xem tài liệu đính kèm).

  1. Gặp gỡ Ban Học Vụ

Trong năm học, học viên có ba lần gặp giám học chính thức:

– Lần thứ nhất vào những ngày đầu của năm học để trao đổi về chương trình cụ thể của học viên (nếu phải chọn lựa nhiều môn) cũng như hướng học tập cá nhân trong năm học.

– Lần thứ hai vào lúc chuyển từ học kỳ I sang học kỳ II. Lần gặp này học viên có thể làm một lượng giá nho nhỏ về hành trình học tập đã qua hoặc lượng giá cụ thể về một số môn học đã học trong học kỳ vừa qua.

– Lần thứ ba vào những ngày cuối của năm học. Vị Giám học cho biết một cách tổng quát kết quả học tập của học viên, lượng giá trong suốt năm học và mở ra viễn tượng học tập mới cho học viên.

Ngoài ra, học viên có thể gặp và trao đổi với Ban học vụ mỗi khi có nhu cầu riêng.

II. Các cách thức lượng giá

Thể theo những đặc điểm nêu trên, sẽ có hai cấp độ lượng gía việc học. Hai cấp độ này bổ túc cho nhau để không chỉ lượng giá chính xác kết quả học tập, nhưng còn giúp các học viên tiến xa hơn trong các môn học và đề tài nghiên cứu của cá nhân.

  1. Lượng giá theo từng môn học [2]

Các học viên sẽ được yêu cầu làm bài lượng giá đối với từng môn học trong chương trình học. Các giáo sư giảng dạy và giám học sẽ xác định cách thức lượng giá sao cho phù hợp với những đặc điểm của chương trình nêu ở trên.

  1. Lượng giá bằng các bài tổng kết cá nhân

Phần này bao gồm hai hình thức sau:

a. Bài tổng kết cuối năm học

(Dành cho Năm Dự Bị và Triết I)

Trong những tuần cuối của năm học, học viên được yêu cầu viết bài tổng kết quá trình học tập trong năm. Bài viết này có mục đích cho thấy khả năng tổng hợp, liên kết và hệ thống hóa các mảng tri thức đã lĩnh hội trong năm cũng như khả năng phán đoán và đặt vấn đề dựa trên lượng tri thức này. Bài tổng kết được thực hiện dưới trách nhiệm của Giám học. Bài tổng kết này bao gồm năm phần:

Phần 1: Giới thiệu

Học viên giới thiệu hay liệt kê các môn đã theo học trong năm (chỉ yêu cầu tên bộ môn và tên giáo sư theo từng học kỳ mà thôi). Mục đích của phần này là giúp hệ thống lại về mặt hình thức chương trình mà học viên đã tham dư trong năm.

Phần 2 : Lượng giá việc đọc sách

Phần này bao gồm hai phần nhỏ

1. Thư mục: Học viên liệt kê theo thứ tự những tác phẩm và bài viết (articles) đã đọc trong năm. Họ cũng có thể đưa vào đó các tác phẩm (văn hóa, nghệ thuật, phim ảnh) mà đối với học viên là quan trọng.

2. Hồ sơ đọc sách hay đề tài: Tiếp theo, học viên trình bày hai “hồ sơ đọc sách” hay hai “đề tài”. Đây là kết quả của việc đọc sách cá nhân như đã đề cập ở trên. Các đề tài có thể khởi đi từ một khía cạnh nào đó trong một môn học hoặc những quan điểm khác nhau của một vấn đề, rút ra từ các sách đã đọc. Mỗi một hồ sơ bao gồm tựa đề, nội dung hồ sơ (trình bày dưới dạng bài viết, không phải dàn ý) và thư mục có chọn lọc. Mỗi hồ sơ không vượt quá 1 trang.

Phần 3: Lượng giá các bài viết và việc học nhóm

1. Các bài viết: Học viên liệt kê những bài viết cuối khóa theo thứ tự các môn học và giới thiệu ngắn gọn nội dung của những bài viết ấy. Nội dung của mỗi bài viết không vượt quá 5 dòng.

2. Học nhóm: việc lượng giá này liên quan tới:

– Các nhóm học tập trong năm học (thuyết trình hay dịch thuật).

– Các seminars và các khóa hội thảo.

Trong phần này, học viên sẽ trình bày thật ngắn gọn nội dung nghiên cứu, phương pháp, các mục tiêu đạt được. Tiếp đến, trong chừng ½ trang, học viên trình bày những suy tư của mình về giá trị của việc học nhóm.

Phần 4: Trình bày các hoạt động khác

Học viên mô tả cách ngắn gọn hoạt động tông đồ trong năm của mình. Điều cần là lưu ý đặc biệt đến những tương quan có thể có với các môn đã học và đến những thay đổi hướng làm việc trí thức tạo ra bởi hoạt động tông đồ. Mục đích của việc trình bày này cho thấy mức độ thống nhất (integration) các lĩnh vực khác nhau trong hành trình huấn luyện của học viên Giê-su hữu. Vì thế sẽ có ích lợi hơn nếu học viên đưa ra những suy tư tổng hợp mang tính phản tỉnh, phê bình hay nhận định về công việc của mình dựa trên tri thức đã học, hơn là chỉ diễn tả sự hài lòng hay không hài lòng về công việc ấy.

Phần 5: Lượng giá năm học và dự phóng

a. Hành trình:

Trong 2 hoặc 3 trang, học viên mô tả hành trình học tập và đưa ra phán đoán tổng quát:

Đâu là đích nhắm đã đề ra vào đầu năm?

Các mục tiêu nào đã đạt được?

Các trọng tâm tri thức nào đã được đào sâu?

Các điểm trở ngại nào đã được nhận ra?

Cũng như những phần lượng giá trên, điều được mong đợi nơi mỗi học viên là thực hiện một tổng hợp chặt chẽ và đậm tính suy tư về quá trình học tập trong năm qua, thể hiện khả năng kết nối những tư tưởng khác nhau của học viên.

b. Dự phóng

Để kết luận, học viên dự phóng chương trình và phương pháp làm việc cho năm tới: điểm nhấn của chương trình, cả trên phương diện nội dung và phương pháp. Học viên cũng có thể nêu lên một vài nội dung tri thức cụ thể cần thực hiện trong năm tới (đọc sách hay nghiên cứu một đề tài, v.v…). Các học viên năm 2 có thể trình bày nguyện vọng về bài ra trường của mình.

Việc lượng giá và chấm điểm sẽ dựa vào chất lượng của bài tổng kết : cách trình bày, tầm mức và chất lượng của việc đọc sách, của quá trình làm việc nhóm, của nội dung các bài viết và thư mục tham khảo của chúng, của phần dự phóng tổng hợp cho năm học.

Ghi chú:

  • Toàn bộ bài tổng kết không vượt quá 15 trang, độ cách dòng “single”, chừa lề trái 3,5 cm, những lề còn lại 2,5cm.
  • Bài tổng kết phải có trang bìa (ghi rõ nơi chốn, năm học, Bài tổng kết năm học, tên học viên), không đóng kim nhưng để rời và lồng trong một bìa nylon.

c. Bài tổng kết chương trình ba năm học

(Dành cho triết sinh năm III)

Bài tổng kết chương trình được hiểu là thâu tóm toàn bộ những môn đã học trong suốt thời gian theo học tại học viện. Xét về cơ bản, nó có cấu trúc như bài tổng kết cuối năm và gồm ba phần :

Phần 1 : Giới thiệu chương trình đã học

Học viên liệt kê tất cả các môn học và khóa học đã theo trong suốt các năm học. Danh sách này phải được trình bày theo từng lãnh vực chính yếu như:

  1. Các môn về ngôn ngữ và nhân văn.
  2. Các môn Triết học Tây phương.
  3. Các môn Triết học Đông phương và các môn học khác.

Phần 2: Các luận đề (thesis)[3]

Luận đề là một đoạn văn nêu rõ một lập trường triết học mà học viên muốn bảo vệ hoặc bác bỏ. Chúng phải được dựa trên những quy chiếu rõ ràng. Một luận đề có thể được giới hạn vào một lãnh vực hoặc nối kết nhiều lãnh vực và có độ dài từ 12-15 dòng. Số lượng các luận đề phải thực hiện là 10. Các luận đề phải liên kết với nhau thành một hệ thống nhất và phải khởi đi từ những môn học quan trọng của chương trình đã theo. Cũng có thể thực hiện vài luận đề thần học đối với những ai đã học một vài môn trong lĩnh vực này.

Mỗi luận đề phải có các qui chiếu chi tiết mà, khởi từ đó, luận đề sẽ được triển khai. Các qui chiếu liên quan tới :

– Triết học, hay các môn khác (Lịch sử triết học hay các tác giả đương thời).

– Các môn học đã theo.

– Và cũng có thể, những kinh nghiệm tông đồ và nghề nghiệp.

Phần 3 : Đúc kết

Học viên viết phần đúc kết trình bày những nét lớn của quá trình học tập trong suốt thời gian theo học chương trình của mình. Phần này không được vượt quá 5 trang.

Các bài tổng kết cuối năm sẽ được thảo luận với giám học và phụ tá. Giám học sẽ theo dõi các phần của bài tổng kết sao cho phù hợp với những đòi hỏi của qui định chung[4]. Các bài này sẽ phải nộp cho Giám học chậm nhất vào ngày 29.03.2013.

  1. Lượng giá bằng kỳ thi Tổng Kết và Tiểu Luận (năm III)

a. Kỳ thi tổng kết cuối khóa

Tiến trình chuẩn bị cho kỳ thi vấn đáp cuối khóa được thực hiện trong học kỳ thứ 6 của chương trình và bao gồm hai phần: thực hiện bài tổng kết chương trình (synthesis paper) và kỳ thi tổng kết cuối khóa (comprehensive exam).

– Bài tổng kết chương trình (synthesis paper) bao gồm các phần đã được mô tả trong chương trình tổng quát của mỗi niên học (cf. II. 2. c. Bài tổng kết chương trình ba năm học). Cũng nên lưu ý thêm rằng các luận đề mà học viên chọn phải được sự đồng ý của một giáo sư do Giám Học chỉ định, có vai trò của một giám sát viên. Bài tổng kết này phải được nộp cho Giám Học theo thời hạn đã được ấn định. Bài tổng kết này là cơ sở cho kỳ thi vấn đáp cuối cùng sẽ diễn ra vào cuối học kỳ thứ 6.

– Kỳ thi tổng kết cuối khóa (comprehensive exam): trước thời điểm thi vấn đáp (do Giám Học hoặc Học Vụ ấn định) 30 phút, học viên sẽ nhận từ Giám Học hoặc Học Vụ một bì thư đựng đề thi, trong đó bao gồm một câu hỏi liên quan đến một luận đề mà học viên đã trình bày trong bài tổng kết chương trình. Trong vòng 30 phút, các thí sinh sẽ chuẩn bị phần trình bày của mình mà không có bất kỳ phương tiện trợ giúp nào.

– Cơ cấu kỳ thi vấn đáp:

Giám khảo: có ba (hoặc hai) giám khảo, trong đó nhất thiết phải có mặt Giám Học cũng như vị giám khảo đã ra đề thi; Giám Học đóng vai trò chủ tọa. Kỳ thi vấn đáp này không công khai và kéo dài 30 phút.

Thí sinh trình bày miệng phần chuẩn bị đề tài của mình trong vòng 10 phút, sau đó là phần chất vấn của hai giám khảo chuyên môn, trong đó mỗi vị có 10 phút để nhận xét, chất vấn hoặc cho lời khuyên về phần trình bày của thí sinh và về bất cứ vấn đề nào được đề cập trong bài tổng kết.

Điểm của kỳ thi được tính bình quân từ điểm của ba (hoặc hai) vị giám khảo.

b. Tiểu Luận tốt nghiệp

Đây là một công việc nghiên cứu mang tính nghiên cứu và được đào sâu thỏa đáng về một đề tài hay lĩnh vực triết học, nhất là có liên quan đến các môn đã học trong chương trình.

Tiến trình thực hiện luận văn bao gồm ba giai đoạn: xác định đề tài, thực hiện đề tài, lượng giá đề tài.

– Xác định đề tài: vào đầu học kỳ thứ 5, học viên sẽ tự xác định đề tài triết học cho luận văn. Đồng thời, Giám học sẽ chỉ định một hoặc nhiều giáo sư như trung gian và trợ giúp cho việc xác định đề tài. Học viên có thể trao đổi hoặc tìm giúp đỡ nơi các giáo sư theo chỉ định của Giám Học.

Vào giữa học kỳ 5 hoặc vào một thời điểm thuận tiện, tùy theo quyết định của Giám Học, các học viên chuẩn bị tốt nghiệp sẽ trình bày đề tài mình sẽ thực hiện cách công khai, dưới sự chứng kiến và thẩm định của một hội đồng do Giám Học thiết lập. Các học viên sẽ được giúp ý kiến và được chuẩn nhận để thực hiện đề tài đã chọn. Sau khi đã được chuẩn nhận đề tài, học viên không được phép tự thay đổi đề tài. Học Vụ sẽ không chấp nhận một bài viết khác so với đề tài đã được chuẩn nhận.

– Thực hiện đề tài: các học viên có thời gian là 3-6 tháng để thực hiện đề tài đã được chuẩn nhận, thể theo những đòi hỏi về hình thức một bài luận văn đã được quy định. Các luận văn phải được nộp đúng thời hạn quy định, theo lịch đã được ấn định vào đầu mỗi năm học.

– Lượng giá đề tài:

Giám học hoặc một vị được Giám Học chỉ định sẽ kiểm tra tính hợp pháp của một luận văn ngay khi học viên nộp bài. Vào cuối học kỳ thứ 6, các học viên sẽ bảo vệ và báo cáo luận văn của mình công khai trước cử tọa bao gồm các học viên tham dự, một hội đồng giám khảo bao gồm hai hoặc ba giáo sư, trong đó nhất thiết phải có sự hiện diện của Giám Học. Giám Học sẽ là chủ tọa của các buổi bảo vệ luận văn này.

Điểm của luận văn tốt nghiệp là điểm chia bình quân của các giám khảo trong kỳ bảo vệ tiểu luận.

  1. Bảng thang điểm và tín chỉ
  • Thang điểm (Key to grades)

Hạng

Grade

Phần trăm

Percentage

Điểm

Marks

Giá trị

Point value
Định nghĩa
Definition
 

A

A-

B+

B

C+

C

D

E

F

 

90%

85%

80%

75%

70%

60%

50%

Under 50%

Under 40%

 

18

17

16

15

14

12

10

Under 10

Under 8

 

4

3.5

3

2.5

2

1.5

1

0.5

0

 

Xuất sắc / Excellence

Giỏi / Very good

 

Khá / Good

 

Trung bình / Average

 

Thi lại / Redeemable Fail

Trượt / Fail

  • Tín chỉ (Credits) :

Một tín chỉ tương đương với 15 giờ học

(One credit equals to 15 hours of lectures.)

[1] Các nhóm này có thể là nhóm thuyết trình một môn học, một đề tài mà các học viên quan tâm hoặc một nhóm ôn tập. Chẳng hạn, một nhóm có thể được thành lập từ 3 đến 5 người để cùng nhau đào sâu một điểm đã được đề cập tới trong một môn học, đọc một bài viết (article) hoặc một phần của một cuốn sách theo yêu cầu của các môn đang học, trình bày các bài viết mà mình đã hoặc đang thực hiện, v.v.. Trong mọi trường hợp, sẽ phải cố gắng đáp ứng những mục tiêu được đưa ra trên đây.

[2] Rút kinh nghiệm của những niên khóa trước, các học viên đã không sở hữu tốt những kiến thức cơ bản của các môn học như yêu cầu khi chỉ lượng giá môn học dựa trên bài viết nghiên cứu. Vì thế, kể từ niên khóa 2008-2009 thông thường việc lượng giá từng môn học sẽ bao gồm hai phần: thi vấn đáp hay bút vấn tại lớp và một bài viết mang tính khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo.

[3] Để tránh gánh nặng cho các học viên vào cuối niên học, các luận đề này có thể được thực hiện một phần ngay trong hoặc sau thời gian các khóa học diễn ra, hoặc vào cuối học kỳ I.

[4] Ngoài những kỳ thi hay những thử nghiệm tương đương về từng môn, sau hai năm học triết phải có một kỳ thi toàn diện hoặc một thử nghiệm tương đương, qua đó các học viên chứng tỏ mình đã tiếp thu được nền huấn luyện triết học mà Dòng mong muốn (General Norms of Studies, no.78).

46 views