Home » CHƯƠNG TRÌNH HỌC

CHƯƠNG TRÌNH HỌC

CHƯƠNG TRÌNH NĂM DỰ BỊ VÀ TRIẾT HỌC

  1. Chương trình Năm Dự Bị (Juniorate)

Mục đích của thời gian này chủ yếu là giúp các học viên hoàn thiện khả năng ngoại ngữ, Việt ngữ và các khoa học nhân văn[2].  Ngoài ra, các học viên còn được giới thiệu một phần Triết Sử. Cụ thể Chương trình Năm Dự Bị bao gồm những môn học sau:

  • Anh ngữ (gồm bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; Ngữ pháp; Essay writing; dịch Anh-Việt).
  • Việt ngữ (viết văn, văn học Việt Nam).
  • Luận lý học, Dẫn Nhập Triết học, Triết Cổ Hy Lạp
  • Các môn nhân văn bao gồm : Lịch sử và Văn hoá Việt Nam, Văn Hoá Tây Phương, Nhạc lý, Hội hoạ, Xã hội học cơ bản[3].
  1. Chương trình triết học (năm I & II)

Quy Chế Tổng Quát về việc học trong Dòng đã mô tả điển hình của giai đoạn triết sinh như sau:

“Con người trong tư cách là một hữu thể hoàn toàn ý thức về mình, có tự do và có tính xã hội, phẩm giá và các quyền của con người trong tư cách là một nhân vị; khuynh chiều của con người hướng về những gì là siêu việt, sự hiện hữu và bản tính của Thiên Chúa; lương tâm, trách nhiệm luân lý; trách nhiệm của con người đối với văn hóa và các cơ chế; các con đường đưa tới việc nhận biết và cảm thức về chân lý.” [4]

Từ định hình cơ bản đó, Học viện cố gắng cung cấp chương trình triết học của học viện trong 2 năm còn lại với cấu trúc như sau:

Các môn dẫn nhập và cơ bản

  • Tri thức luận (Epistemology).
  • Lịch sử triết học Tây Phương (Greek philosophy, Medieval, Modern and Contemporary Philosophy).
  • Siêu hình học (Metaphysics) hay/và Hữu thể học (Ontology).
  • Đạo đức triết học (Philosophical Ethics).
  • Triết học về Thiên Chúa (Philosophy of God).
  • Triết học về Con người (Philosophy of Man).
  • Triết học Chính trị (Political Philosophy).
  • Triết học Đông Phương:

– Lịch sử tư tưởng Trung Hoa (History of Chinese Thoughts),
– Triết sử Ấn độ (Indian Philosophy).

– Phật giáo (Buddhism).

Tâm lý học (Psychology).

Các môn mở rộng [5]

Tùy theo đích nhắm và hoàn cảnh của từng năm học, việc học có thể được mở rộng thêm một hay nhiều môn học trong số các môn khác được liệt kê dưới đây:

  • Triết học về khoa học (Philosophy of Sciences)
  • Triết học về Tôn giáo (Philosophy of Religion)
  • Hiện tượng học (Phenomenology)
  • Thông diễn học (Hermeneutics)
  • Phương pháp và viết Luận Triết (Methodology &   Philosophical Writing)
  • Ngữ học (Linguistics).
  • Phân tích xã hội (Social Analysis).

[1] Được gọi là « Baccalauréat canonique » trong tiếng Pháp và « Bachelor » of Ecclesiastical Degree Programs, trong tiếng Anh.

[2] Trong hoàn cảnh cụ thể của Tỉnh Dòng, chưong trình này chỉ thực hiện được một phần những gì là thiết yếu nhất, vì việc học tiếng Anh đã chiếm phần lớn thời gian; nó có mục đích giúp học viên khả dĩ hoàn tất tốt nhất những môn triết học trong hai năm ngay sau thời gian juniorate.

[3] Sau thời gian Nhà Tập, các Giêsu hữu trẻ cần được học môn Xã Hội, bao gồm các phương diện kinh tế chính trị và văn hóa ( Fr. P.-H. Kolvenbach, The Formation of the Jesuits, General Curia of the Society of Jesus, Roma, 2003, no. 14). 

[4] General Norms of Studies, no. 77.

[5] Ngoài ra, tùy theo khả năng tổ chức của Học viện, trong hai năm học, các học viên phải học một số chuyên đề (seminars) về một số tác giả hay tác phẩm quan trọng trong khuôn khổ lịch sử triết học. Việc học Anh ngữ cũng được duy trì cách cá nhân trong thời gian này.

NHỮNG ĐÒI HỎI VỀ HỌC THUẬT

I. Các hình thức học tập

Chương trình học của Học viện hiện nay, ngoài một số hình thức giảng day cơ bản như các buổi học (courses), chuyên đề (seminars) và các bài thuyết trình (conferences), còn đòi hỏi một số sinh hoạt ngoại khóa sau:

  1. Học nhóm

Các học viên được khuyến khích hình thành các nhóm học tập. Mục tiêu của việc học nhóm là mang lại sự khích lệ cho việc học, giúp nhau lĩnh hội các nội dung trí thức của các môn học và phát triển các khả năng thảo luận (lắng nghe và lập luận)[1].

Nếu có yêu cầu, các giáo sư sẽ đề nghị sách, các bài viết hoặc các trích đoạn đặc biệt thích hợp với công việc của các nhóm. Mỗi học viên sẽ viết lại chương trình đã được nhóm của mình thực hiện trong bài tổng kết cuối năm (xem phần 2 của bài tổng kết cuối năm học).

  1. Đọc sách cá nhân

Mỗi học viên được khuyến khích để xây dựng cho mình từ đầu năm học “kế hoạch đọc sách”. Học viên có thể trao đổi việc này với Ban học vụ hoặc các giáo sư. Việc đọc sách này không chỉ giúp học viên chuẩn bị, đào sâu tri thức hoặc tham gia tích cực vào các lớp học mà còn giúp học viên có thói quen đối diện với những vấn đề được nêu lên trong các tác phẩm. Việc đọc sách này sẽ được lượng giá vào cuối năm qua việc trình bày hai “hồ sơ đọc sách” (xem phần 2 của bài tổng kết cuối năm).

  1. Luận Văn tốt nghiệp

Học viên được yêu cầu thực hiện một bài luận tốt nghiệp mang tính học thuật trong năm học cuối cùng. Ðây là một công việc mang tính nghiên cứu và được đào sâu một cách thỏa đáng về một chủ đề triết học. Đề tài phải phù hợp và có liên quan đến các lãnh vực triết học đã học trong chương trình.

Về nội dung, bài viết phải chứng tỏ cho thấy hiểu thấu đáo và đầy đủ một vấn đề, khả năng lập luận có sức thuyết phục, khả năng đưa ra một phán đoán cá nhân dựa trên nền tảng chung của triết học.

Về cách thức, bài viết phải được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một giáo sư. Ðề tài nghiên cứu phải được giám học chấp thuận. Ðộ dài thông thường khoảng chừng 12.000 từ. Bài viết phải được trình bày theo tiêu chuẩn của một luận văn (thesis) bao gồm tựa đề, phụ đề (nếu có) của bài viết và các tài liệu tham khảo gồm những tác phẩm được sử dụng trong bài viết dưới dạng trích đoạn hay trích ý, mục lục, phụ lục (nếu có).

  1. Việc sử dụng các nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu học tập chính hiện nay là các tài liệu do giáo sư cung cấp hoặc chỉ định cũng như các sách trong thư viện. Các học viên cần tập thói quen làm việc tại thư viện. Ngoài ra, các học viên được khuyến khích tiếp cận những nguồn tài liệu mới (các tài liệu nghe nhìn, tạp chí online, phim ảnh, internet,v.v…). Tuy nhiên, khi sử dụng những tài liệu trên, nhất là trong bài viết, các học viên cần cân nhắc kỹ càng và nhất là phán đoán mức độ khả tín của các tài liệu ấy. Dù trong trường hợp nào, việc ghi rõ xuất xứ (footnotes) là điều bó buộc. Tuyệt đối không vi phạm quy tắc đạo văn. Nếu một học viên vi phạm nguyên tắc này, bài viết hoặc luận văn của học viên đó sẽ bị loại.

* Cách thức soạn thảo văn bản khi viết bài

Học Viện Thánh Giuse chọn theo các qui tắc soạn thảo văn bản như tác giả Kate L. Turabian đề nghị trong cuốn A Manual for Writers of Term Papers, Theses, and Dissertations (seventh edition).

(Một cách cụ thể, liên quan tới cách viết footnotes và liệt kê bibliography, xin xem tài liệu đính kèm).

  1. Gặp gỡ Ban Học Vụ

Trong năm học, học viên có ba lần gặp giám học chính thức:

– Lần thứ nhất vào những ngày đầu của năm học để trao đổi về chương trình cụ thể của học viên (nếu phải chọn lựa nhiều môn) cũng như hướng học tập cá nhân trong năm học.

– Lần thứ hai vào lúc chuyển từ học kỳ I sang học kỳ II. Lần gặp này học viên có thể làm một lượng giá nho nhỏ về hành trình học tập đã qua hoặc lượng giá cụ thể về một số môn học đã học trong học kỳ vừa qua.

– Lần thứ ba vào những ngày cuối của năm học. Vị Giám học cho biết một cách tổng quát kết quả học tập của học viên, lượng giá trong suốt năm học và mở ra viễn tượng học tập mới cho học viên.

Ngoài ra, học viên có thể gặp và trao đổi với Ban học vụ mỗi khi có nhu cầu riêng.

II. Các cách thức lượng giá

Thể theo những đặc điểm nêu trên, sẽ có hai cấp độ lượng gía việc học. Hai cấp độ này bổ túc cho nhau để không chỉ lượng giá chính xác kết quả học tập, nhưng còn giúp các học viên tiến xa hơn trong các môn học và đề tài nghiên cứu của cá nhân.

  1. Lượng giá theo từng môn học [2]

Các học viên sẽ được yêu cầu làm bài lượng giá đối với từng môn học trong chương trình học. Các giáo sư giảng dạy và giám học sẽ xác định cách thức lượng giá sao cho phù hợp với những đặc điểm của chương trình nêu ở trên.

  1. Lượng giá bằng các bài tổng kết cá nhân

Phần này bao gồm hai hình thức sau:

a. Bài tổng kết cuối năm học

(Dành cho Năm Dự Bị và Triết I)

Trong những tuần cuối của năm học, học viên được yêu cầu viết bài tổng kết quá trình học tập trong năm. Bài viết này có mục đích cho thấy khả năng tổng hợp, liên kết và hệ thống hóa các mảng tri thức đã lĩnh hội trong năm cũng như khả năng phán đoán và đặt vấn đề dựa trên lượng tri thức này. Bài tổng kết được thực hiện dưới trách nhiệm của Giám học. Bài tổng kết này bao gồm năm phần: 

Phần 1: Giới thiệu

Học viên giới thiệu hay liệt kê các môn đã theo học trong năm (chỉ yêu cầu tên bộ môn và tên giáo sư theo từng học kỳ mà thôi). Mục đích của phần này là giúp hệ thống lại về mặt hình thức chương trình mà học viên đã tham dư trong năm.

Phần 2 : Lượng giá việc đọc sách

Phần này bao gồm hai phần nhỏ

1. Thư mục: Học viên liệt kê theo thứ tự những tác phẩm và bài viết (articles) đã đọc trong năm. Họ cũng có thể đưa vào đó các tác phẩm (văn hóa, nghệ thuật, phim ảnh) mà đối với học viên là quan trọng.

2. Hồ sơ đọc sách hay đề tài: Tiếp theo, học viên trình bày hai “hồ sơ đọc sách” hay hai “đề tài”. Đây là kết quả của việc đọc sách cá nhân như đã đề cập ở trên. Các đề tài có thể khởi đi từ một khía cạnh nào đó trong một môn học hoặc những quan điểm khác nhau của một vấn đề, rút ra từ các sách đã đọc. Mỗi một hồ sơ bao gồm tựa đề, nội dung hồ sơ (trình bày dưới dạng bài viết, không phải dàn ý) và thư mục có chọn lọc. Mỗi hồ sơ không vượt quá 1 trang.

Phần 3: Lượng giá các bài viết và việc học nhóm

1. Các bài viết: Học viên liệt kê những bài viết cuối khóa theo thứ tự các môn học và giới thiệu ngắn gọn nội dung của những bài viết ấy. Nội dung của mỗi bài viết không vượt quá 5 dòng.

2. Học nhóm: việc lượng giá này liên quan tới:

– Các nhóm học tập trong năm học (thuyết trình hay dịch thuật).

– Các seminars và các khóa hội thảo.

Trong phần này, học viên sẽ trình bày thật ngắn gọn nội dung nghiên cứu, phương pháp, các mục tiêu đạt được. Tiếp đến, trong chừng ½ trang, học viên trình bày những suy tư của mình về giá trị của việc học nhóm.

Phần 4: Trình bày các hoạt động khác

Học viên mô tả cách ngắn gọn hoạt động tông đồ trong năm của mình. Điều cần là lưu ý đặc biệt đến những tương quan có thể có với các môn đã học và đến những thay đổi hướng làm việc trí thức tạo ra bởi hoạt động tông đồ. Mục đích của việc trình bày này cho thấy mức độ thống nhất (integration) các lĩnh vực khác nhau trong hành trình huấn luyện của học viên Giê-su hữu. Vì thế sẽ có ích lợi hơn nếu học viên đưa ra những suy tư tổng hợp mang tính phản tỉnh, phê bình hay nhận định về công việc của mình dựa trên tri thức đã học, hơn là chỉ diễn tả sự hài lòng hay không hài lòng về công việc ấy.

Phần 5: Lượng giá năm học và dự phóng

a. Hành trình:

Trong 2 hoặc 3 trang, học viên mô tả hành trình học tập và đưa ra phán đoán tổng quát:

Đâu là đích nhắm đã đề ra vào đầu năm?

Các mục tiêu nào đã đạt được?

Các trọng tâm tri thức nào đã được đào sâu?

Các điểm trở ngại nào đã được nhận ra?

Cũng như những phần lượng giá trên, điều được mong đợi nơi mỗi học viên là thực hiện một tổng hợp chặt chẽ và đậm tính suy tư về quá trình học tập trong năm qua, thể hiện khả năng kết nối những tư tưởng khác nhau của học viên.

b. Dự phóng

Để kết luận, học viên dự phóng chương trình và phương pháp làm việc cho năm tới: điểm nhấn của chương trình, cả trên phương diện nội dung và phương pháp. Học viên cũng có thể nêu lên một vài nội dung tri thức cụ thể cần thực hiện trong năm tới (đọc sách hay nghiên cứu một đề tài, v.v…). Các học viên năm 2 có thể trình bày nguyện vọng về bài ra trường của mình. 

Việc lượng giá và chấm điểm sẽ dựa vào chất lượng của bài tổng kết : cách trình bày, tầm mức và chất lượng của việc đọc sách, của quá trình làm việc nhóm, của nội dung các bài viết và thư mục tham khảo của chúng, của phần dự phóng tổng hợp cho năm học.

Ghi chú:

  • Toàn bộ bài tổng kết không vượt quá 15 trang, độ cách dòng “single”, chừa lề trái 3,5 cm, những lề còn lại 2,5cm.
  • Bài tổng kết phải có trang bìa (ghi rõ nơi chốn, năm học, Bài tổng kết năm học, tên học viên), không đóng kim nhưng để rời và lồng trong một bìa nylon.

c. Bài tổng kết chương trình ba năm học

(Dành cho triết sinh năm III)

Bài tổng kết chương trình được hiểu là thâu tóm toàn bộ những môn đã học trong suốt thời gian theo học tại học viện. Xét về cơ bản, nó có cấu trúc như bài tổng kết cuối năm và gồm ba phần :

Phần 1 : Giới thiệu chương trình đã học

Học viên liệt kê tất cả các môn học và khóa học đã theo trong suốt các năm học. Danh sách này phải được trình bày theo từng lãnh vực chính yếu như:

  1. Các môn về ngôn ngữ và nhân văn.
  2. Các môn Triết học Tây phương.
  3. Các môn Triết học Đông phương và các môn học khác.

Phần 2: Các luận đề (thesis)[3]

Luận đề là một đoạn văn nêu rõ một lập trường triết học mà học viên muốn bảo vệ hoặc bác bỏ. Chúng phải được dựa trên những quy chiếu rõ ràng. Một luận đề có thể được giới hạn vào một lãnh vực hoặc nối kết nhiều lãnh vực và có độ dài từ 12-15 dòng. Số lượng các luận đề phải thực hiện là 10. Các luận đề phải liên kết với nhau thành một hệ thống nhất và phải khởi đi từ những môn học quan trọng của chương trình đã theo. Cũng có thể thực hiện vài luận đề thần học đối với những ai đã học một vài môn trong lĩnh vực này. 

Mỗi luận đề phải có các qui chiếu chi tiết mà, khởi từ đó, luận đề sẽ được triển khai. Các qui chiếu liên quan tới :

– Triết học, hay các môn khác (Lịch sử triết học hay các tác giả đương thời).

– Các môn học đã theo.

– Và cũng có thể, những kinh nghiệm tông đồ và nghề nghiệp.

Phần 3 : Đúc kết

Học viên viết phần đúc kết trình bày những nét lớn của quá trình học tập trong suốt thời gian theo học chương trình của mình. Phần này không được vượt quá 5 trang.

Các bài tổng kết cuối năm sẽ được thảo luận với giám học và phụ tá. Giám học sẽ theo dõi các phần của bài tổng kết sao cho phù hợp với những đòi hỏi của qui định chung[4]. Các bài này sẽ phải nộp cho Giám học chậm nhất vào ngày 29.03.2013.

 

  1. Lượng giá bằng kỳ thi Tổng Kết và Tiểu Luận (năm III)

a. Kỳ thi tổng kết cuối khóa

Tiến trình chuẩn bị cho kỳ thi vấn đáp cuối khóa được thực hiện trong học kỳ thứ 6 của chương trình và bao gồm hai phần: thực hiện bài tổng kết chương trình (synthesis paper) và kỳ thi tổng kết cuối khóa (comprehensive exam).

– Bài tổng kết chương trình (synthesis paper) bao gồm các phần đã được mô tả trong chương trình tổng quát của mỗi niên học (cf. II. 2. c. Bài tổng kết chương trình ba năm học). Cũng nên lưu ý thêm rằng các luận đề mà học viên chọn phải được sự đồng ý của một giáo sư do Giám Học chỉ định, có vai trò của một giám sát viên. Bài tổng kết này phải được nộp cho Giám Học theo thời hạn đã được ấn định. Bài tổng kết này là cơ sở cho kỳ thi vấn đáp cuối cùng sẽ diễn ra vào cuối học kỳ thứ 6.

– Kỳ thi tổng kết cuối khóa (comprehensive exam): trước thời điểm thi vấn đáp (do Giám Học hoặc Học Vụ ấn định) 30 phút, học viên sẽ nhận từ Giám Học hoặc Học Vụ một bì thư đựng đề thi, trong đó bao gồm một câu hỏi liên quan đến một luận đề mà học viên đã trình bày trong bài tổng kết chương trình. Trong vòng 30 phút, các thí sinh sẽ chuẩn bị phần trình bày của mình mà không có bất kỳ phương tiện trợ giúp nào.

– Cơ cấu kỳ thi vấn đáp:

Giám khảo: có ba (hoặc hai) giám khảo, trong đó nhất thiết phải có mặt Giám Học cũng như vị giám khảo đã ra đề thi; Giám Học đóng vai trò chủ tọa. Kỳ thi vấn đáp này không công khai và kéo dài 30 phút.

Thí sinh trình bày miệng phần chuẩn bị đề tài của mình trong vòng 10 phút, sau đó là phần chất vấn của hai giám khảo chuyên môn, trong đó mỗi vị có 10 phút để nhận xét, chất vấn hoặc cho lời khuyên về phần trình bày của thí sinh và về bất cứ vấn đề nào được đề cập trong bài tổng kết.

Điểm của kỳ thi được tính bình quân từ điểm của ba (hoặc hai) vị giám khảo. 

b. Tiểu Luận tốt nghiệp

Đây là một công việc nghiên cứu mang tính nghiên cứu và được đào sâu thỏa đáng về một đề tài hay lĩnh vực triết học, nhất là có liên quan đến các môn đã học trong chương trình.

Tiến trình thực hiện luận văn bao gồm ba giai đoạn: xác định đề tài, thực hiện đề tài, lượng giá đề tài.

– Xác định đề tài: vào đầu học kỳ thứ 5, học viên sẽ tự xác định đề tài triết học cho luận văn. Đồng thời, Giám học sẽ chỉ định một hoặc nhiều giáo sư như trung gian và trợ giúp cho việc xác định đề tài. Học viên có thể trao đổi hoặc tìm giúp đỡ nơi các giáo sư theo chỉ định của Giám Học.

Vào giữa học kỳ 5 hoặc vào một thời điểm thuận tiện, tùy theo quyết định của Giám Học, các học viên chuẩn bị tốt nghiệp sẽ trình bày đề tài mình sẽ thực hiện cách công khai, dưới sự chứng kiến và thẩm định của một hội đồng do Giám Học thiết lập. Các học viên sẽ được giúp ý kiến và được chuẩn nhận để thực hiện đề tài đã chọn. Sau khi đã được chuẩn nhận đề tài, học viên không được phép tự thay đổi đề tài. Học Vụ sẽ không chấp nhận một bài viết khác so với đề tài đã được chuẩn nhận.

– Thực hiện đề tài: các học viên có thời gian là 3-6 tháng để thực hiện đề tài đã được chuẩn nhận, thể theo những đòi hỏi về hình thức một bài luận văn đã được quy định. Các luận văn phải được nộp đúng thời hạn quy định, theo lịch đã được ấn định vào đầu mỗi năm học.

– Lượng giá đề tài:

Giám học hoặc một vị được Giám Học chỉ định sẽ kiểm tra tính hợp pháp của một luận văn ngay khi học viên nộp bài. Vào cuối học kỳ thứ 6, các học viên sẽ bảo vệ và báo cáo luận văn của mình công khai trước cử tọa bao gồm các học viên tham dự, một hội đồng giám khảo bao gồm hai hoặc ba giáo sư, trong đó nhất thiết phải có sự hiện diện của Giám Học. Giám Học sẽ là chủ tọa của các buổi bảo vệ luận văn này.

Điểm của luận văn tốt nghiệp là điểm chia bình quân của các giám khảo trong kỳ bảo vệ tiểu luận.

  1. Bảng thang điểm và tín chỉ
  • Thang điểm (Key to grades)

 Hạng

Grade

Phần trăm

Percentage

 Điểm

Marks

 Giá trị

Point value
 Định nghĩa
Definition
 

A

A-

B+

B

C+

C

D

E

F

 

90%

85%

80%

75%

70%

60%

50%

Under 50%

Under 40%

 

18

17

16

15

14

12

10

Under 10

Under 8

 

4

3.5

3

2.5

2

1.5

1

0.5

0

 

Xuất sắc / Excellence

Giỏi / Very good

 

Khá / Good

 

Trung bình / Average

 

Thi lại / Redeemable Fail

Trượt / Fail                     

           

  • Tín chỉ (Credits) :

Một tín chỉ tương đương với 15 giờ học

(One credit equals to 15 hours of lectures.)

[1] Các nhóm này có thể là nhóm thuyết trình một môn học, một đề tài mà các học viên quan tâm hoặc một nhóm ôn tập. Chẳng hạn, một nhóm có thể được thành lập từ 3 đến 5 người để cùng nhau đào sâu một điểm đã được đề cập tới trong một môn học, đọc một bài viết (article) hoặc một phần của một cuốn sách theo yêu cầu của các môn đang học, trình bày các bài viết mà mình đã hoặc đang thực hiện, v.v.. Trong mọi trường hợp, sẽ phải cố gắng đáp ứng những mục tiêu được đưa ra trên đây.

[2] Rút kinh nghiệm của những niên khóa trước, các học viên đã không sở hữu tốt những kiến thức cơ bản của các môn học như yêu cầu khi chỉ lượng giá môn học dựa trên bài viết nghiên cứu. Vì thế, kể từ niên khóa 2008-2009 thông thường việc lượng giá từng môn học sẽ bao gồm hai phần: thi vấn đáp hay bút vấn tại lớp và một bài viết mang tính khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo.

[3] Để tránh gánh nặng cho các học viên vào cuối niên học, các luận đề này có thể được thực hiện một phần ngay trong hoặc sau thời gian các khóa học diễn ra, hoặc vào cuối học kỳ I.

[4] Ngoài những kỳ thi hay những thử nghiệm tương đương về từng môn, sau hai năm học triết phải có một kỳ thi toàn diện hoặc một thử nghiệm tương đương, qua đó các học viên chứng tỏ mình đã tiếp thu được nền huấn luyện triết học mà Dòng mong muốn (General Norms of Studies, no.78).

JUNIORATE AND PHILOSOPHY PROGRAM

I. Objective

With its basic philosophy program, Saint Joseph Jesuit Scholasticate aims at (1) providing the young Jesuit scholastics and brothers with the essential knowledges of philosophy and of theology as well as of other fields that are important to the Church, the society and the culture of VietNam as an Asian country; (2) helping the scholastics to be at home with the contemporary mode of thinking. The contents of the formation program are built in the perspective of mission, as affirmed by the General Congregations (GC), specially GC 34 and GC 35[1].

The goal of the philosophy program is therefore to bring the students into contact with the knowledge possessed and the problems posed by our contemporaries, especially those who are in our country and share our culture. With that, each student is encouraged to find his own way to articulate and express his Christian faith.

II. Method

The method of the philosophy program is asymptotic and adaptable to the individual. Emphasis is first laid on the communication of working method, then on the content of particular subjects. This is for the purpose of helping the student to form his own personal judgment on the subjects in a responsible and profound way.

With that purpose in view, different teaching and evaluation methods will be used to facilitate personal reflection. These methods include getting acquaintance with classical works in philosophy and theology, writing profound academic papers, participating in group discussion, seminars, etc. The Dean of studies and the professors will accompany each individual student in his intellectual journey. The students are therefore encouraged to meet with these persons in charge on a regular base.

III. Programs

The philosophy program is organized in such a way that satisfies the requirements of the program of Bachelor of Arts in Philosophy. Following is the common program for both Scholastics and Brothers.

AREA: PROPEDEUTIC COURSES

Course TitleCode No.Credits
LogicPP 1023
Vietnamese History and CulturePP 103.23
History of Western CulturesPP 103.33
Vietnamese LiteraturePP 1043
English Language: Basic English SkillsPP 105.26
English Language: English Grammar for WritingPP 105.33
English Language: Reading and SpeakingPP 105.43
Psychology: Theories of PersonalityPP 1063
Sociology / Social AnalysisPP 1074

AREA: FUNDAMENTAL COURSES

Course TitleCode No.Credits
Introduction to PhilosophyPF 1013
Ancient PhilosophyPF 102.22.5
Medieval PhilosophyPF 102.32.5
Modern PhilosophyPF 102.42.5
Contemporary PhilosophyPF 102.52.5
MetaphysicsPF 103.24
OntologyPF 103.34
EpistemologyPF 1043
Philosophical EthicsPF 105.23
Social EthicsPF 105.33
Political PhilosophyPF 105.43
Philosophy of GodPF 106.24
AtheismPF 106.32
Philosphy of Human NaturePF 1073
Introduction to Chinese PhilosophyPF 108.23
Chinese PhilosophyPF 108.33
Indian Philosophy IPF 108.4.12
Indian Philosophy IIPF 108.4.22
BuddhismPF 1093

AREA: OPTIONAL COURSES

Course TitleCode No.Credits
Hermeneutics and Philosophical MethodologyPO 1024
German IdealismPO 103.23
HegelPO 103.33
Existentialism: KierkegaardPO 104.22
Philosophy of SciencePO 1053
Philosophy for TheologyPO 1063

[1] See “Our mission” in Decrees of Genernal Congregation 34, Since the restored Society 15, Rome, 1995, 8-46 or Complementary Norms, n. 87 and the Decrees of GC 35.

 

THEOLOGY PROGRAM

A.   THEOLOGICAL PROGRAM DESCRIPTION

I. General Goal

  • The primary goal of SJJS’ theological program is to provide theological education for those preparing particularly for pastoral ministry and mission of the Society of Jesus in Vietnam and more widely in an Asian context. This education involves
  • A basic understanding of our Catholic heritage;
  • An awareness and sensitivity to cultural/religious context;
  • A deepening of spirituality, especially Ignatian charism; and
  • Certain pastoral skills necessary for ministry.
  • More concretely, this program aims at two concurrent goals:
  • Preparing Jesuit scholastics and brothers for their future ministries in accordance to the guidelines of the Society of Jesus and of the Church
  • Pursuing necessary academic degrees in affiliation with a Jesuit school of theology or the International Theological Center of the Asia Pacific Assistancy.

II. Fundamental Framework

  • As a program designed for Jesuits, beside the ecclesiastical requirements, it takes concerns articulated by recent General Congregations such as 34 and 35 as constitutive of its fundamental framework. Thus the service of faith and the promotion of justice, mission of reconciliation, dialogue with other religious traditions and cultures, creative fidelity, and collaboration are envisioned as informing the entire theological program.

III. General Program Description

  • This program is designed for Jesuits finished with general education including philosophical studies. Introductory courses or their equivalents in Scripture and Christian doctrine are considered prerequisites in preparation for the program (for Vietnamese Jesuits, these may be well covered in their studies during the noviceship and juniorate program).
  • Since the courses and resources are not only in Vietnamese, it is necessary for those participating in the program to acquire a certain competence in reading, comprehension and writing in English.
  • In keeping with Jesuit and ecclesiastical directives, the duration of the program is four academic years of two semesters with 114 total credits[1] including ministerial courses and Jesuit requirements. Some elective courses or seminars may be further inserted during the time for the Jesuits’ need or interest.
  • While the program is designed with Jesuits as its primary constituency, it is foreseen that these courses be also open to other students, especially from other religious congregations.
  • This program and its general pedagogical methodology are closely adapted from those of Loyola School of Theology (LST) in Manila and the Proposal of The International Theological Center at LST drafted in 2004.

B.    ADMISSION POLICY

  • Those students who seek admission to the STB (or Seminary) Program must have completed three-year combined Juniorate and Philosophy Program (for Jesuits) and its equivalent (for other students), offered by widely-recognized institutes of philosophical studies.
  • Introductory courses or their equivalents in Sacred Scripture and Christian doctrine leading up to 12 units of undergraduate theology are considered prerequisites in preparation for this theological program.
  • Non-Jesuit Students must pass the entrance tests (including a test of English profienccy) and interviews given by Saint Joseph Jesuit Scholasticate. They must also be recommended by their competent superiors, and submit their transcript of records.

C.   GRADING SYSTEM

Saint Joseph Jesuit Scholasticate has developed and applied its grading system. The following table show the numeric grades and their equivalent descriptive and letter grades:

MarksGrade Percentage Point ValueDefinition
18

17

16

15

14

12

10

below 10

below 8

 

INC

W

WP

AUD

DRP

A

A-

B+

B

C+

C

D

E

F

 

 

90%

85%

80%

75%

70%

60%

50%

below 50%

below 40%

4

3.5

3

2.5

2

1.5

1

0.5

0

Excellence

Very Good

Above Good

Good

Above Average

Average

Passing

Redeemable Failure

Failure

 

Incomplete

Withdrawn w/o Permission

Withdrawn with Permission

Audit

Dropped

D.   GRADUATION REQUIREMENTS AND HONORS SYSTEM

 

  1. All students pursuing the STB Program at Saint Joseph Jesuit Scholasticate are to take the Comprehensive Examination of Theology after having finished its curriculum. This examination aims to determine whether students have attained sufficient Christian theological knowledge for the fruitful exercise of their ministry.
  2. In general, this examination is organized in the last semester of the four-year Seminary Program.
  3. The Dean of Theological Studies together with his team at Saint Joseph Jesuit Scholasticate is to compile and determine a standard list of theological themes which covers comprehensively the STB Program. This list should be re-evaluated periodically according to the updates made to the program. In order to ensure the equal level of academic performance andteststandards, the Compiling Committee should compare its own theological themes with those of other Jesuit schools of theology.
  4. The current list of theological themes covers all articles of faith and the Catholic Church’s Catechism as they are underlined in the Niceno-Constantinopolitan Creed. Those themes aim to help the examinees, during their period of review and synthesis, bring together all their knowledge on the Holy Scripture, Systematic Theology, Patrology and Church History, Moral Theology, Spirituality and Pastoral.
  5. All theological themes and matters to be prepared for the examination should be distributed to the examinees three months prior to the examination date.
  6. Besides, the examinees must prove a healthy judgment capacity in Moral Theology and Applied Canon Law in a separate examination right after they have finished the course on Hearing Confessions (Ad Audiendas Confessiones).
  7. The period of preparation is the major target of the Comprehensive Examination, in which the students should manage to work in groups for the review and preparation for the examination. They can also take initiative to contact their professors for special guidance or additional
  8. Depending on thesituation and aiming to prevent students from getting panic during the period of review and synthesis, the names of the jury should not be announced till two days before the examination.
  9. Depending on their academic performance, students will be assigned to either type of the comprehensive examinations:

Type-I: The Ordinary Comprehensive Examination

The ordinary comprehensive examination lasts 60 minutes before a board of three professors. The basis of this examination is based on the list of theological questions and themes which, despite their ordinary appearance, maintain their comprehensive nature. Each professor questions the examinee for 20 minutes.

Type-II: The Honors Comprehensive Examination

The honors comprehensive examination lasts 90-minute before a board of three professors. The preparation for it affords the students an opportunity to achieve more thoroughly the STB Program, and to assimilate the whole program in a more personal and creative way.

a. Qualification for the Honors Comprehensive Examination

  • Students in the STB program with a 3.5 – 4 weighted average (equivalent to Grade A-, or 85% or 17/20 marks and upper) take the honors comprehensive examination.
  • Students in the STB program with a 3 – 3.4 weighted average (equivalent to Grade B+, or 80% or 16/20 marks) can appeal to the Dean to be allowed to take the honors comprehensive examination.
  • In order to evaluate the academic performance of an approved scholastic of the Society of Jesus in view of discerning his capacity to pursue graduate studies or take final vows, the Provincial and the Dean may consider for that scholastic, if needed, to take the Comprehensive Examination Type-
  • Students who are registered at Saint Joseph Jesuit Scholasticate but have taken 4 courses upward at another institution, are allowed to take only the ordinary comprehensive examination.

b. Procedure of the Honors Comprehensive Examination

i. This examination consists of two parts:

  • The candidate is examined by each of the three professors for 20 minutes each, on the basis of the ordinary comprehensive examination theses list.
  • After a break, the candidate presents his synthesis within ten minutes. He is then questioned on the synthesis’ details by the examiners for 20 minutes.

Each examiner gives a mark based on the total performance of the candidate. The first part counts for 2/3 and the second for 1/3 of the final grade for the examination. The grading scheme with 20 marks in maximum should be used.

ii. The Synthesis

The synthesis of the honors comprehensive examination is intended to help  students personally integrate the main themes of their study of theology by articulating it in relation to a particular focus. The students can include in that synthesis all the main areas of Christian message mentioned in the list of themes for the preparation of the comprehensive examination. During the writing period, they should also consult their mentors in order to bind the synthesis’ topic with the themes of the Catholic faith in a creative way, then present the synthesis coherently and persuasively.

iii. The Synthesis should comply with these characteristics: Written, Personal, Positive, and Synoptic.

  • Written: The synthesis is at least 15A4-sized pages in length but not more than 20 pages; double spacing is required with normal margins; the type size should be 12 point in Times New Roman font. The synthesis must be concise and coherent. The writer should take into account the emphasis of the Second Vatican Councilon the adaptation of theological presentation: “From the beginning of her history, the Church has learned to express the message of Christ with the help of the ideas and terminology of various philosophers, and has tried to clarify it with their wisdom, too. Her purpose has been to adapt the Gospel to the grasp of all as well as to the needs of the learned, insofar as such was appropriate. Indeed this accommodated preaching of the revealed word ought to remain the law of all evangelization.” (Gaudium et Spes 44).
  • Personal: The students are free to start the synthesis with any topic on the doctrine of faith rooted in biblical, patristic, theological thinking, or a prominent argument of professional theologians … . In the development and argumentation, the students must be able to link that topic in a coherent, attractive and convincing way to all the major themes in the teachings of the Catholic faith, professed in the Creed.
  • Positive: The synthesis is considered as insufficient if the students just enumerate a list ofproblems as opposed to the Christian faith. The core of the doctrine should be developed, built in an argumentative and creative way.
  • Synoptic: As a general theological synthesis of the student, the dissertation should be brief, with a coherent plan, a concise content, and its ideas must fit together.

iv. The students must submit the synthesis to the mentor three weeks before the examination; then three days prior to the examination, they print five typed copies of the synthesis, approved by the mentor, and submit them to the Dean of the Theology Department.

v. During the defense session of the synthesis, the examinees need to prepare to:

  • Clarify the implications o robscure points left in the synthesis.
  • Defend or discuss on their points of view.
  • Indicate Biblical bases for their claims.
  • Comment on important declarations of the Magisterium related to the doctrinal points endorsed by the candidates.
  • Refer to important resolutions of the Church to major themes on doctrines and the liturgy, which had been long discussed during the Church’s history.

c. The grade obtained during the Honors Comprehensive Examination constitute 30 percent of the overal QPI. The following honors are to be indicated in the seminary diploma:

MarksGrade Point ValueHonors Awarded
18

17.5

17

A

 

A-

4

 

3.5

(18 and Above) Summa cum Laude

(17.5 – 17.9) Magna cum Laude

(17 – 17.4) Cum Laude 

 

[1] One Credit requires 15 hours of class/seminar

DETAIL PROGRAM

(according to Academic Areas)

AREA: SACRED SCRIPTURES

Code No.Course TitleCreditsYear Level
TBO 102Pentateuch31
TBO 103Prophets32
TBO 104Psalms / Wisdom Literature33
TBN 102Synoptics41
TBN 102.2Luke-Acts22
TBN 103John32
TBN 104.2Pauline Letters I: Galatians-Romans23
TBN 104.3Pauline Letters II: Corinthians-Philippians23
TBL 104.2Latin I21
TBL 104.3Latin II21
TBL 103.2Biblical Greek I24
TBL 103.3Biblical Greek II24

AREA: SYSTEMATIC THEOLOGY

Code No.Course TitleCreditsYear Level
TF 102Fundamental Theology I: Revelation and Faith41
TF 103Fundamental Theology II: Scripture, Tradition, Magisterium31
TD 103Christology42
TD 104Ecclesiology32
TD 102Trinity33
TD 106.2Theology of Human Person I: Christian Anthropology23
TD 106.3Theology of Human Person I: Sin and Grace23
TD 106.4Theology of Human Person II: Eschatology23
TD 105.2Sacraments: General and of Initiation43
TD 105.3Sacraments of Healing: Penance and Anointing24
TD 105.4Sacraments of Vocation: Holy Orders and Christian Marriage24
TD 107Liturgy /Christian Worship32
TD 104.3Theology of Religions (or EATEP in Thailand)34
TD 104.3.2Asian Religions34
TD 104.2Missiology22
TD 105.2Mariology23
TD 108.2Theology of the Spiritual Exercises24
TDS 102Theological Synthesis and Comprehensive Examination24

AREA: MORAL AND SPIRITUAL THEOLOGY

Code No.Course TitleCreditsYear Level
TM 102Fundamental Moral Theology31
TM 103Sexual-Bioethics32
TM 104Social Ethics33
TP 108Practice of Ignatian Spirituality52

AREA: CHURCH HISTORY – PRACTICAL / PASTORAL THEOLOGY

Code No.Course TitleCreditsYear Level
TH 102General Church History I2.51
TH 103General Church History II2.51
TH 103.2Church History in Vietnam22
TH 104Patristic Studies21
TJ 102Canon Law I33
TJ 103Canon Law II33
TP 102Preaching and Presiding at Liturgical Celebrations24
TP 103.2Pastoral Management24
TP 103.3Pastoral Counseling33
TP 104Ad Audiendas Confessiones24

CÁCH VIẾT FOOTNOTE VÀ LIỆT KÊ BIBLIOGRAPHY

I. BOOKS

When citing books, the following are elements you may need to include in your bibliographic citation for your first footnote or endnote and in your bibliography, in this order:

1. Author or editor;
2. Title;
3. Compiler, translator or editor (if an editor is listed in addition to an author);
4. Edition;
5. Name of series, including volume or number used;
6. Place of publication, publisher and date of publication;
7. Page numbers of citation (for footnote or endnote).

1. Books with One Author or Corporate Author

Text:

Author:
Charles Hullmandel experimented with lithographic techniques throughout the early nineteenth century, patenting the “lithotint” process in 1840.1

 

Editor:
Human beings are the sources of “all international politics”; even though the holders of political power may change, this remains the same.1

 

Corporate Author:
Children of Central and Eastern Europe have not escaped the nutritional ramifications of iron deficiency, a worldwide problem.1

 

First footnote:

 

1Michael Twyman, Lithography 1800-1850 (London: Oxford University Press, 1970), 145-146.

1Valerie M. Hudson, ed., Culture and Foreign Policy (Boulder: L. Rienner Publishers, 1997), 5.

1UNICEF, Generation in Jeopardy: Children in Central and Eastern Europe and the Former Soviet Union, edited by Alexander Zouev (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1999), 44.

Note the different treatment of an editor’s name depending on whether the editor takes the place of an author (second example) or is listed in addition to the author (third example). 

Subsequent footnotes:

Include the author or editor’s last name, the title (or an abbreviated title) and the page number cited.

2Twyman, Lithography 1800-1850, 50.

2Hudson, ed., Culture and Foreign Policy, 10.

2UNICEF, Generation in Jeopardy, 48.

      

Bibliography:

Hudson, Valerie, N., ed. Culture and Foreign Policy. Boulder: L. Rienner Publishers, 1997.

Twyman, Michael. Lithography 1800-1850. London: Oxford University Press, 1970.

UNICEF. Generation in Jeopardy: Children in Central and Eastern Europe and the
           Former Soviet Union. Edited by Alexander Zouev. Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1999.

2. Books with Two or More Authors or Editors

First footnote:

 

1Russell Keat and John Urry, Social Theory as Science, 2d ed. (London: Routledge
and K. Paul, 1982), 196.

 

1Toyoma Hitomi, “The Era of Dandy Beauties,” in Queer Voices from Japan: First-Person Narratives from Japan’s Sexual Minorities, eds. Mark J. McLelland, Katsuhiko Suganuma, and James Welker (Lanham, MD: Lexington Books, 2007), 157.

For references with more than three authors, cite the first named author followed by “et al.”  Cite all the authors in the bibliography.

 

1Leonard B. Meyer, et al., The Concept of Style, ed. Berel Lang (Philadelphia: University
of Pennsylvania Press, 1979), 56.

 

Subsequent footnotes:

 

2Keat and Urry, Social Theory as Science, 200.

2Meyer, et al., The Concept of Style, 90.

 

Bibliography:

Keat, Russell, and John Urry.  Social Theory as Science, 2d. ed.  London: Routledge and K. Paul, 1982.

Hitomi, Toyoma. “The Era of Dandy Beauties.” In Queer Voices from Japan: First-Person Narratives from Japan’s Sexual Minorities, edited by Mark J. McLelland, Katsuhiko Suganuma, and James Welker, 153-165. Lanham, MD: Lexington Books, 2007.

Meyer, Leonard B., Kendall Walton, Albert Hofstadter, Svetlana Alpers, George Kubler,

Richard Wolheim, Monroe Beardsley, Seymour Chatman, Ann Banfield, and Hayden White.  The Concept of Style.  Edited by Berel Lang.  Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1979.  

3. Electronic Books

Follow the guidelines for print books, above, but include the collection (if there is one), URL and the date you accessed the material.

 

First footnote:

 

1John Rae, Statement of Some New Principles on the Subject of Political Economy (Boston: Hillard, Gray and Company, 1834), in The Making of the Modern World, http://galenet.galegroup.com/servlet/MOME?af=RN&ae=U104874605&srchtp=a&ste=14 (accessed June 22, 2009).  

 

Subsequent footnotes:

 

2Rae, Statement of Some New Principles on the Subject of Political Economy.

 

Bibliography:

Rae, John. Statement of Some New Principles on the Subject of Political Economy. Boston: Hillard, Gray and Company, 1834. In The Making of the Modern World, http://galenet.galegroup.com/servlet/MOME?af=RN&ae=U104874605&srchtp=a&ste=14 (accessed June 22, 2009).  

II. PERIODICAL ARTICLES

For periodical (magazine, journal, newspaper, etc.) articles, include some or all of the following elements in your first footnote or endnote and in your bibliography, in this order:

1. Author;
2. Article title;
3. Periodical title;
4. Volume or Issue number (or both);
5. Publication date;
6. Page numbers.

For online periodicals , add:
7. URL and date of access; or
8. Database name, URL and date of access. (If available, include database publisher and city of publication.)

For an article available in more than one format (print, online, etc.), cite whichever version you used.

1. Journal Articles (Print)

First footnote:

 

1Lawrence Freedman, “The Changing Roles of Military Conflict,” Survival 40, no. 4 (1998): 52.

Here you are citing page 52.  In the bibliography (see below) you would include the full page range: 39-56.

If a journal has continuous pagination within a volume, you do not need to include the issue number:

1John T. Kirby, “Aristotle on Metaphor,” American Journal of Philology 118 (1997): 520.

 

Subsequent footnotes:

 

2Freedman, “The Changing Roles of Military Conflict,” 49.   

2Kirby, “Aristotle on Metaphor,” 545.

 

Bibliography:

Freedman, Lawrence. “The Changing Roles of Miltary Conflict.”  Survival 40, no. 4 (1998): 39-56.

Kirby, John T. “Aristotle on Metaphor.” American Journal of Philology 118 (1997): 517-554.  

2. Journal Articles (Online)

Cite as above, but include the URL and the date of access of the article.

 

First footnote:

On the Free Web

 

1Molly Shea, “Hacking Nostalgia: Super Mario Clouds,” Gnovis 9, no. 2 (Spring 2009),http://gnovisjournal.org/journal/hacking-nostalgia-super-mario-clouds (accessed June 25, 2009).

 

Through a Subscription Database

 

1John T. Kirby, “Aristotle on Metaphor,” American Journal of Philology 118, no. 4 (Winter 1997): 524,http://muse.jhu.edu/journals/american_journal_of_philology/v118/118.4.kirby.html (accessed June 25, 2009).

 

1Michael Moon, et al., “Queers in (Single-Family) Space,” Assemblage 24 (August 1994): 32,http://www.jstor.org/stable/3171189 (accessed June 25, 2009).

 

Subsequent Footnotes:

2Shea, “Hacking Nostalgia.”

2Kirby, “Aristotle on Metaphor,” 527. 

2Moon, “Queers in (Single-Family) Space,” 34. 

 

Bibliography:

Shea, Molly. “Hacking Nostalgia: Super Mario Clouds,” Gnovis 9, no. 2 (Spring 2009),http://gnovisjournal.org/journal/hacking-nostalgia-super-mario-clouds (accessed June 25, 2009).

Kirby, John T. “Aristotle on Metaphor,” American Journal of Philology 118, no. 4 (Winter 1997): 524,http://muse.jhu.edu/journals/american_journal_of_philology/v118/118.4.kirby.html (accessed June 25, 2009).

Moon, Michael, Eve Kosofsky Sedgwick, Benjamin Gianni, and Scott Weir. “Queers in (Single-Family) Space.” Assemblage 24 (August 1994): 30-7, http://www.jstor.org/stable/3171189 (accessed June 25, 2009).

3. Magazine Articles (Print)

First footnote:

 

Monthly or Bimonthly

1Paul Goldberger, “Machines for Living: The Architectonic Allure of the Automobile,” Architectural Digest, October 1996, 82.

 

Weekly

1Steven Levy and Brad Stone, “Silicon Valley Reboots,” Newsweek, March 25, 2002, 45.

 

Subsequent footnotes:

         2Goldberger, “Machines for Living,” 82.

         2Levy and Stone, “Silicon Valley Reboots,” 46.

 

Bibliography:

Goldberger, Paul.  “Machines for Living: The Architectonic Allure of the Automobile.” ArchitecturalDigest, October 1996.

Levy, Steven, and Brad Stone. “Silicon Valley Reboots.” Newsweek, March 25, 2002.

4. Magazine Articles (Online)

Follow the guidelines for print magazine articles, adding the URL and date accessed.

 

First footnote:

 

1Bill Wyman, “Tony Soprano’s Female Trouble,” Salon.com, May 19, 2001,http://archive.salon.com/ent/tv/feature/2001/05/19/sopranos_final/index.html (accessed June 27, 2009).

 

1Sasha Frere-Jones, “Hip-Hop President.” New Yorker, November 24, 2008,http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=aph&AN=35324426&site=ehost-live (accessed June 26, 2009).   

 

Bibliography:

Wyman, Bill. “Tony Soprano’s Female Trouble.” Salon.com, May 19, 2001,http://archive.salon.com/ent/tv/feature/2001/05/19/sopranos_final/index.html (accessed June 27, 2009).

Frere-Jones, Sasha. “Hip-Hop President.” New Yorker, November 24, 2008.http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=aph&AN=35324426&site=ehost-live (accessed June 26, 2009). 

5. Newspaper Articles

In most cases, you will cite newspaper articles only in notes, not in your bibliography. Follow the general pattern for citing magazine articles, although you may omit page numbers.

 

In Print

       1Eric Pianin, “Use of Arsenic in Wood Products to End,” Washington Post, February 13, 2002, final edition.

 

Online

       1Eric Pianin, “Use of Arsenic in Wood Products to End,” Washington Post, February 13, 2002, final edition, in LexisNexis Academic (accessed June 27, 2009).

Note: In the example above, there was no stable URL for the article in LexisNexis, so the name of the database was given rather than a URL.

6. Review Articles

Follow the pattern below for review articles in any kind of periodical.

 

First footnote:

 

1Alanna Nash, “Hit ‘Em With a Lizard,” review of Basket Case, by Carl Hiassen, New York
Times, February 3, 2002, http://proquest.umi.com/pqdweb?did=105338185&sid=2&Fmt=6&clientId=5604&R… (accessed June 26, 2009).  

 

1David Denby, “Killing Joke,” review of No Country for Old Men, directed by Ethan and Joel Coen, New Yorker, February 25, 2008, 72-73, http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=fah&AN=30033248&site=ehost-live (accessed June 26, 2009). 

 

Second footnote:

 

2Nash, “Hit ‘Em With a Lizard.”

2Denby, “Killing Joke.”

III. WEBSITES

In most cases, you will be citing something smaller than an entire website. If you are citing an article from a website, for example, follow the guidelines for articles above. You can usually refer to an entire website in running text without including it in your reference list, e.g.: “According to its website, the Financial Accounting Standards Board requires …”.

If you need to cite an entire website in your bibliography, include some or all of the following elements, in this order:

1. Author or editor of the website (if known)
2. Title of the website
3. URL
4. Date of access

Example:

Financial Accounting Standards Boardhttp://www.fasb.org (accessed April 29, 2009).

(Tham khảo trên trang Web: Georgetown University Library. http://www.library.georgetown.edu/tutorials/research-guides/turabian-footnote-guide?quicktabs_3=1 ngày 28.05.2012)

Q: What’s the difference between a periodical, a journal, and a magazine? What difference does it make which one I use?

 

A: A “periodical” is any publication that comes out regularly or occasionally (i.e. periodically, get it?). TV GuideSports IllustratedThe Journal of Anthropological ResearchThe World Almanac, and the phone book are all periodicals.

A “magazine” is a periodical with a popular focus, i.e. aimed at the general public, and containing news, personal narratives, and opinion. Articles are often written by professional writers with or without expertise in the subject; they contain “secondary” discussion of events, usually with little documentation (e.g. footnotes). Magazines use vocabulary understandable to most people, and often have lots of eye-catching illustrations. TimeNewsweekU.S. News & World Report, and Psychology Today are magazines

A “journal” is a scholarly periodical aimed at specialists and researchers. Articles are generally written by experts in the subject, using more technical language. They contain original research, conclusions based on data, footnotes or endnotes, and often an abstract or bibliography. The Journal of Physical ChemistryThe Chaucer ReviewThe Milbank Quarterly, and Labor History are examples of journals.

It’s important to understand the differences between journals and magazines. Magazines are not necessarily bad or low quality (nor are journals necessarily high quality) — they simply aren’t designed to support most upper-level academic research. This is because they don’t document their sources of information, and they generally lack the depth of scholarly journals.

(Tham khảo trên trang Web: University of Michigan-Flint. http://www.umflint.edu/library/faq/difference.htm ngày 27.05.2012)

89 views